ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, HIV/AIDS hiện đang là một trong những vấn đề y tế công cộng lớn nhất toàn cầu với khoảng 36,9 triệu người nhiễm HIV còn sống tính đến cuối năm 2014 trong đó có khoảng 2,6 triệu trường hợp là trẻ em. Cho đến nay, có khoảng 34 triệu người tử vong vì những nguyên nhân có liên quan đến HIV/AIDS với khoảng 1,2 triệu trường hợp tử vong trong năm 2014. Khu vực châu Phi và Đông Nam châu Á là hai khu vực tập trung số bệnh nhân HIV/AIDS nhiều nhất trong đó riêng khu vực miền Nam sa mạc Sahara châu Phi đã có tới 25,8 triệu người sống chung với HIV tính đến cuối năm 2014 [79, 80]. Tuy nhiên, tính đến tháng 3 năm 2015 mới chỉ có 15 triệu bệnh nhân được điều trị ARV trên toàn thế giới với gần 13,5 triệu trường hợp ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp.
Chỉ 41% bệnh nhân người lớn, 32% trẻ em và 73% phụ nữ có thai nhiễm HIV nhận được điều trị [56]. Tại Việt Nam, tính đến ngày 18/06/2015, toàn quốc có 227.114 bệnh nhân HIV/AIDS còn sống, số bệnh nhân AIDS là 71.115, số ca tử vong vì AIDS là 74. Tất cả các tỉnh, thành phố; 98,9% quận, huyện và 80,3% xã, phường báo cáo có trường hợp nhiễm HIV [9]. Tỷ lệ nhiễm HIV trên toàn dân là 248/100.
Nam giới chiếm 67,6%, nữ giới chiếm 32,4%. 74,9% các trường hợp nhiễm HIV/AIDS tập trung vào nhóm tuổi 20-39 trong đó chủ yếu là từ 30-39 tuổi [8]. Hiện nay, mới chỉ có 95.752 bệnh nhân được điều trị ARV trong đó có 91.156 người lớn và 4. Ngân sách điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam hiện đang chủ yếu đến từ nguồn tài trợ nước ngoài.
Tuy nhiên, Việt Nam đang dần thoát khỏi nhóm các quốc gia nghèo và thu nhập thấp nên trong thời gian tới, nguồn kinh phí viện trợ từ nước ngoài bị cắt giảm nghiêm trọng. Hiện nay, nhiều nhà tài trợ đã ngừng cấp kinh phí hỗ trợ công tác điều trị và phòng chống HIV/AIDS cho Việt Nam [9]. Nhằm đem lại một số thông tin về các chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân ngoại trú để góp phần hỗ trợ Chính phủ ước tính nguồn kinh phí cần thiết cho công tác phòng chống HIV/AIDS khi nguồn viện trợ quốc tế bị cắt giảm trong thời gian tới, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích chi phí điều trị của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương” với 2 mục tiêu: - Mô tả một số đặc điểm của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú được điều trị tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương. - Phân tích cơ cấu chi phí điều trị của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú được điều trị tại cơ sở điều trị nói trên trong năm 2015.
1 Luan van thac si CHƢƠNG I – TỔNG QUAN 1. Thực trạng về HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới HIV là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, có thể dẫn đến hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Không giống như một số virus khác, cơ thể con người không thể thoát khỏi HIV, điều đó có nghĩa rằng một khi đã nhiễm HIV, virus sẽ tồn tại cho đến khi người bệnh chết.
HIV là một loại virus lây lan qua dịch cơ thể có ảnh hưởng đến các tế bào cụ thể của hệ thống miễn dịch, được gọi là tế bào CD4, hoặc các tế bào T. Theo thời gian, virus HIV có thể phá hủy rất nhiều tế bào làm cho cơ thể không thể chống lại được nhiễm trùng và bệnh tật. Khi đó, HIV gây ra AIDS [74]. Bản đồ phân bố số lượng người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới năm 2013 Theo số liệu của WHO, đại dịch HIV/AIDS hiện nay đang là một trong những vấn đề y tế công cộng toàn cầu lớn nhất với khoảng 36,9 triệu (34,3 - 41,4 triệu) người nhiễm HIV còn sống tính đến cuối năm 2014 trong đó có khoảng 2,6 triệu (2,4 - 2,8 triệu) trường hợp là trẻ em.
Khoảng 2 triệu (1,9 - 2,2 triệu) ca mới nhiễm HIV trong năm 2014 trong đó gần 220.000 trường hợp là trẻ em (190. Hầu hết các trường hợp trẻ em ở trên đều sống ở khu vực miền Nam vùng sa mạc Sahara châu Phi và bị lây truyền bởi các bà mẹ bị nhiễm HIV trong quá trình mang thai, sinh con hoặc cho con bú. Cho đến nay, 34 triệu người đã tử vong vì những nguyên nhân có liên quan 2 Luan van thac si đến HIV/AIDS trên toàn thế giới trong đó khoảng 1,2 triệu (1,0 - 1,5 triệu) người tử vong trong năm 2014 [79, 80]. Các bệnh nhân HIV/AIDS tập trung chủ yếu ở châu Phi và các nước Đông Nam Á, trong đó khu vực miền Nam sa mạc Sahara ở châu Phi là khu vực bị HIV/AIDS ảnh hưởng nặng nề nhất với 25,8 triệu (24,0 - 28,7 triệu) người sống chung với HIV tính đến năm 2014.
Ngoài ra, khu vực này cũng chiếm khoảng 70% tổng số ca mới nhiễm HIV trên toàn cầu [79, 80]. Ngân sách toàn cầu cho HIV/AIDS cũng tập trung phần lớn ở châu Phi (khoảng 90%), 5% cho Đông Nam châu Á và 2,5% cho Mỹ Latin [46]. Chỉ 51% những người sống chung với HIV biết rõ về tình trạng của mình. Trong năm 2014, khoảng 150 triệu trẻ em và người lớn ở 129 quốc gia thu nhập trung bình và thấp nhận các dịch vụ xét nghiệm HIV/AIDS.
Trên toàn cầu, khoảng 17,8 triệu trẻ em mất cha hoặc mẹ hoặc cả hai vì AIDS. Mức độ bao phủ điều trị HIV cho trẻ em chỉ bằng 1/2 so với người lớn. Cứ 50 tiếng thì có thêm một phụ nữ trẻ nhiễm HIV [53]. HIV là yếu tố nguy cơ lớn nhất cho việc phát triển bệnh lao.000 trường hợp tử vong do bệnh lao xảy ra ở những người sống chung với HIV, chiếm một phần tư trong số 1,5 triệu người tử vong do HIV trong năm đó.
Đa số những người sống chung với HIV và lao cư trú ở khu vực miền Nam sa mạc Sahara châu Phi (khoảng 78% các trường hợp trên toàn thế giới) [79]. Bên cạnh đó, trong số 35 triệu trường hợp sống chung với HIV, có 2 – 4 triệu người đồng nhiễm HBV và 4 – 5 triệu trường hợp đồng nhiễm HCV [55]. Theo số liệu của WHO và UNAIDS, sự tiếp cận của các bệnh nhân HIV/AIDS đến ART tăng gấp 40 lần từ năm 2002 đến năm 2012 [53]. Tính đến tháng 3 năm 2015, 15 triệu bệnh nhân đã được điều trị ARV trên toàn thế giới.
Trong số này, gần 13,5 triệu trường hợp sống ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Khoảng 70% phụ nữ mang thai nhiễm HIV ở các nước có thu nhập trung bình và thấp nhận được thuốc ngăn ngừa lây truyền từ mẹ sang con. Khoảng 2 triệu người mới bắt đầu bước vào điều trị ARV trong năm 2013 và 2014 – một mức tăng hàng năm lớn nhất từ trước đến nay. Các đối tượng có nguy cơ cao bị nhiễm HIV được WHO cảnh báo [70]: - Quan hệ tình dục đồng giới ở nam: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới lớn hơn so với dân số nói chung khoảng 13 lần.
Lý do chính là do quan hệ qua đường hậu môn không sử dụng bao cao su [52]. 3 Luan van thac si - Các tù nhân và những người bị giam giữ: Tỷ lệ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở các đối tượng trong tù và bị giam giữ cao gấp 2 đến 10 lần so với dân số nói chung [21]. Bên cạnh những hành vi gây nguy cơ cao nhiễm HIV trong nhà tù như các hoạt động tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy và xăm mình thì các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng nhà tù, quản lý trại giam và hệ thống tư pháp hình sự cũng góp phần làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, viêm gan B, C và bệnh lao trong nhà tù [61]. Bên cạnh đó, những điều kiện trong tù như tình trạng quá tải, bạo lực tình dục, ma túy và thiếu tiếp cận với công tác phòng chống HIV như bao cao su và chất bôi trơn nên nguy cơ lây nhiễm là rất cao [65].
- Các đối tượng tiêm chích ma túy: Tỷ lệ nhiễm HIV rất cao ở những người tiêm chích ma túy. Dựa trên dữ liệu từ 49 quốc gia, nguy cơ lây nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma túy cao gấp 22 lần so với dân số nói chung, trong đó ở 11 quốc gia, nguy cơ này cao hơn ít nhất là 50 lần [70]. Trong số 12,7 triệu (8,9 – 22,4 triệu) trường hợp tiêm chích ma túy, có 13% trường hợp nhiễm HIV [55]. - Người chuyển giới: Một phân tích công bố vào năm 2013 cho thấy có 1 sự tổn thương đặc biệt ở phụ nữ chuyển giới.197 phụ nữ chuyển giới tại 10 quốc gia có thu nhập trung bình và thấp, tỷ lệ nhiễm HIV là 17,7%.869 phụ nữ chuyển giới lấy mẫu tại 5 quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ nhiễm HIV là 21,6% [15].
- Trẻ vị thành niên: Là nhóm đối tượng có tâm lý và tình cảm phức tạp, còn thiếu hiểu biết và tiếp cận kém với các cách phòng tránh HIV. Đặc biệt là với nhóm thiếu niên dưới 18 tuổi, các chính sách pháp lý liên quan đến độ tuổi như xét nghiệm hay tư vấn có thể là rào cản gây hạn chế đến việc phòng và điều trị HIV/AIDS [20, 44]. - Mại dâm: Trên toàn cầu, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người hành nghề mại dâm trung bình được ước tính là khoảng 12%. Số liệu khảo sát từ 26 quốc gia cho thấy có khoảng 30,7% số người bán dâm dương tính với HIV [24, 52].
- Phối hợp nguy cơ: Các nguy cơ trên phối hợp với nhau góp phần làm tăng nhanh tỷ lệ nhiễm HIV. Ngoài ra 7 nhóm đối tượng có nguy cơ cao nói trên, UNAIDS cũng đưa ra 12 nhóm đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV cao bao gồm: (1) những người sống chung với HIV, (2) các bé gái tuổi dậy thì và phụ nữ trẻ, (3) tù nhân, (4) dân di cư, (5) dân tị nạn, (6) đối tượng tiêm chích ma túy, (7) đồng tính nam, (8) hành nghề mại dâm, (9) người chuyển giới, (10) trẻ em và phụ nữ sống chung với HIV, (11) người ốm yếu tàn tật và (12) những người già trên 50 tuổi [55]. 4 Luan van thac si 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam Các trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam đã được báo cáo trong năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ đó, số trường hợp nhiễm HIV đã tăng lên một cách đáng kể.