mở đầu cho thời kì quá độ từ chế độ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa ở châu Âu gắn liền với lý tưởng đấu tranh cho con người được phát triển tự do, được tôn trọng, đề cao, được thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần và con người cá nhân được giải phóng. Cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỉ XIX cùng những phát minh mới về hình ảnh, các loại sách báo về tình dục đã làm thay đổi quan niệm của con người. Song song với sự phát triển của kinh tế cùng những khát vọng tự do cá nhân thì trong đời sống tinh thần xã hội tư bản cũng xuất hiện những mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa một bên là những quan niệm truyền thống đã ăn sâu vào nếp nghĩ không thể xoá bỏ của loài người với một bên là những tư tưởng, quan niệm mới nhằm giải phóng con người. Vì lẽ đó, bản thân cá nhân luôn phải sống trong sự đấu tranh nội tâm giằng xé, dễ dẫn đến nảy sinh sự ức chế trong hoạt động tinh thần, đặc biệt lại là sự ức chế tình dục.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 là thời kì bão táp của các cuộc cách mạng và chiến tranh thế giới, nước Áo- quê hương của Freud cũng bị cuốn vào vòng xoáy đó: cái chết, sự đói nghèo, đau khổ, mất mát đe doạ cuộc sống thể xác và tinh thần của mỗi con người, những căn bệnh tâm lý luôn có nguy cơ phát triển theo. Chính thực trạng này đã thúc đẩy những bác sĩ khoa học tâm thần đi tìm những phương pháp trị bệnh mới. Trong khi lúc bấy giờ, phương pháp thôi miên mà người ta sử dụng không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả như mong muốn. Nhận thấy sự hạn chế này, Freud đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp mới hiệu quả hơn.
Ông cho rằng những bệnh nhân bị nhiễm bệnh nhiễu tâm - chứng bệnh tâm thần do rối loạn nhân cách dẫn đến sống trong lo sợ, lo âu, thất vọng, cuồng loạn… xuất phát từ những gì trải qua ban đầu thuở ấu thơ, phát triển trong một thời gian dài và do bản năng tính dục mạnh mẽ ức chế không được giải toả. Freud thay thế phương pháp thôi miên bằng phương pháp liên tưởng tự do, cho phép bệnh nhân trình bày các ý nghĩa trong trạng thái thư giãn tỉnh táo và thông giải các ẩn ức thuở ấu thơ, các giấc mộng để giúp bệnh nhân nhận biết một cách có ý thức các tình huống bị quên lãng, từ đó bộc lộ nguyên nhân gây bệnh. Cả quá trình nghiên cứu tâm huyết và cũng khá nhiều nhà nghiên cứu bấy giờ ủng hộ. Freud đã lập ra học thuyết Phân tâm học với tư cách là một triết học về tâm lý và nhân cách con người mà chủ đạo là vô thức và tính dục.
Freud đã đưa ra triết học về thế giới tinh thần của con người với việc phát hiện ra “bộ máy tâm thần”. Ông viết: “Quá trình tâm lý chủ yếu là thuộc về tiềm thức, còn như quá trình tâm lý của ý thức chẳng qua chỉ là một động tác bộ phận được tách ra từ toàn bộ tâm linh. Chúng ta cần nhớ rằng trước nay người ta cho tâm lý là ý thức, ý thức dường như là đặc trưng của đời sống tâm lý, và tâm lý học được xem là khoa học nghiên cứu nội dung của ý thức. Cách nhìn này quá rõ ràng đến nỗi bất kì một sự phản đối nào cũng bị xem là gây rối.
Nhưng mà trái lại, Phân tâm học không đề kháng thành kiến này, không thể không phủ nhận lối nói tâm lý là ý thức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Phân tâm học cho rằng tâm linh có bao hàm tác dụng của tình cảm, tư tưởng, dục vọng… mà tư tưởng và dục vọng đều có thể là tiềm thức” [98, tr. Nhà tâm lý học này đã nêu ra kết cấu 3 tầng của hoạt động tâm lý con người như sau: Hệ thống vô thức: là kho tàng của dục vọng bản năng sinh vật. Những bản năng và dục vọng này chất chứa những năng lượng tâm lý mạnh mẽ, phục tùng theo nguyên tắc khoái lạc và ra sức xâm lấn vào cõi ý thức để thoả mãn.
Hệ thống tiềm thức (tiền ý thức, hạ ý thức): được cấu thành bởi những kinh nghiệm, làm thành bộ phận trung gian giữa hệ thống ý thức và vô thức, trong đó cất giấu lương tâm và lý tưởng cá nhân được cấu thành bởi những chuẩn tắc, quy phạm và quan niệm về giá trị, về xã hội, luân lý tôn giáo… có nhiệm vụ ngăn không cho những bản năng mạnh mẽ xâm nhập vào ý thức. Hệ thống ý thức: phục tùng nguyên tắc hiện thực, loại bỏ những bản năng và dục vọng của con người, làm cho giữa cá nhân và xã hội thường xuyên trong trạng thái đối lập. Bản năng và dục vọng bị dồn nén sẽ chuyển dần vào lĩnh vực vô thức, để bảo toàn năng lượng tâm lý, cũng có khả năng chuyển hoá thành bệnh tâm thần nếu không có lối thoát, không đủ sức chịu đựng. Nó tìm cách giải thoát để được thoả mãn qua những giấc mơ và đặc biệt hơn là thăng hoa trong những phát minh khoa học hoặc sáng tạo nghệ thuật.Freud đã triển khai Phân tâm học vào nghiên cứu nhiều mảng đề tài khác nhau từ con người đến văn hoá.
Trong đó, tâm lý và nhân cách con người luôn là những vấn đề đáng quan tâm. Theo ông, nhân cách con người được xây dựng qua sự tương tác phức hợp giữa các xung năng với những kinh nghiệm thời niên thiếu của họ. Hành vi con người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ khi còn ở thời tuổi nhỏ, đặc biệt trong năm năm đầu tiên của cuộc đời. Trong lý thuyết của ông, con người tiếp tục thoả mãn những mong muốn của họ theo cách mà họ tương tác với người khác trong quá khứ, hay cách mà họ thoả mãn mong muốn của mình thời thơ ấu.
Những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 vấn đề quan trọng được họ đề cập tới trong lý thuyết của Freud đó là bản năng, vô thức và cấu trúc nhân cách của con người. Về bản năng, ông cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vô thức. Nó bao gồm các bản năng sống (Eros) và các bản năng chết (Thanatos). Bản năng sống: bao gồm tất cả những gì liên quan đến sự tồn tại của cá nhân và tập thể như: đói khát, tình dục.
Năng lượng của bản năng sống này được ghi vào libido - bản năng tình dục. Tình dục là bản năng sống mà Freud gắn vào tầm quan trọng nhất trong việc phát triển nhân cách. Nó là năng lượng của sự sống, năng lực làm chúng ta sống, hoạt động, hưởng thụ, tạo sự thăng bằng bên trong cơ thể chúng ta bằng cách làm cho con người tránh được những căng thẳng, đau đớn, thoả mãn nhu cầu của con người. Bản năng sống rất quan trọng để duy trì cuộc sống cá nhân cũng như sự tiếp tục của loài.
Bản năng chết: là hệ thống năng lượng của những sinh vật sống săn đuổi liên tục một trạng thái cân bằng và chỉ có thể đạt được thông qua cái chết. Fred chủ trương mục tiêu của toàn bộ cuộc sống là cái chết, cái không sinh sống có trước cái sinh sống. Bản năng chết thể hiện khuynh hướng bất khả kháng của mọi sinh vật sống là quay về trạng thái vô cơ. Biểu hiện của bản năng chết là lặp lại một trạng thái, nỗi buồn, nỗi đau có trước nào đó.
Bản năng chết còn được thể hiện ở bản năng gây gổ, bản năng huỷ diệt, đặc biệt là huỷ diệt chính bản thân mình. Bản năng chết được xem như là nền tảng của toàn bộ hành vi hiếu chiến và tàn sát như: sát nhân, tự tử, thù nghịch, tàn nhẫn, những lời thoá mạ, sự tấn công bằng vũ lực. Người có bản năng chết mạnh thường có xu hướng tự tử. Theo Freud, những tham vọng hiếu chiến, cội nguồn của những bản năng chết quan trọng ngang bằng với bản năng sống trong việc thúc đẩy hành vi con người.
Trong con người luôn tồn tại hai loại bản năng có sức mạnh ngang nhau và có xu hướng chống đối nhau, một loại thúc đẩy hành động sống và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 chinh phục cuộc sống, một loại thúc đẩy sự buông xuôi, tan biến và dẫn đến cái chết. Sự tương tác của hai bản năng này dẫn đến tính chất lưỡng năng tình cảm trong cảm xúc con người. Về cấu trúc nhân cách, Freud cho rằng nó có ba cấu thành: cái nó (Id), cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Super Ego). Cái nó hoạt động theo nguyên tắc thoả mãn, gồm bản năng vô thức và thúc đẩy con người thoả mãn những mong muốn mà không tính tới các nguyên tác và các quy định của xã hội.
Cái tôi hoạt động và kiểm soát bằng thực tiễn thế giới xung quanh. Cái siêu tôi hoạt động theo nguyên tác kiểm duyệt, bao gồm ý thức và đạo đức trong mối quan hệ bên ngoài. Cả ba được quy định, ảnh hưởng lẫn nhau và có thể gây mâu thuẫn dễ làm cho con người rơi vào tình trạng căng thẳng nhưng chính Freud đã phát hiện ra giải pháp khắc phục là những cơ chế để tạo ra sự cân bằng trong tâm lý của con người. Tuy nhiên, trên thế giới, những ý kiến đánh giá đối với chủ nghĩa Freud rất phức tạp.
Nhà tâm lý học hành vi phương Tây B.Skinner đã kịch liệt lên án Phân tâm học, cho nó là một thứ huyền thoại siêu hình. Liên Xô cũng từng có xu hướng phủ định hoàn toàn Phân tâm học, cho nó là phản lý tính, phản nghệ thuật. Phương Đông cũng không tránh khỏi lên án Phân tâm học có lẽ do quá xa cách về truyền thống đạo đức. Ở Việt Nam, nhà phê bình Phương Lựu bên cạnh việc khẳng định sức mạnh của Freud cũng cho rằng tác giả đã “tuyệt đối hoá vô thức, đi đến chỗ phủ định vai trò chủ đạo của ý thức đối với hành động của con người trong đời sống hiện thực.
Hơn nữa, ông chỉ thừa nhận trong vô thức cái bản năng tính dục như là hạt nhân cơ bản mà không thấy những thuộc tính xã hội và văn hoá lịch sử của vô thức.276] Bên cạnh đó, nhân loại cũng ghi nhận những sức mạnh và đóng góp của học thuyết này. Phân tâm học với sự phát hiện thế giới vô thức của con người góp phần vạch ra ranh giới giữa tâm lý học hiện đại và tâm lý học cổ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.