Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, việc sản xuất và tiêu thụ thủy sản tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do giá cả lên xuống thất thƣờng, thị trƣờng xuất khẩu không ổn định và việc thâm canh hóa với mật độ nuôi cao đã làm cho bệnh trên thủy sản xảy ra thƣờng xuyên hơn. Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt đƣợc, ngành thủy sản Việt Nam là một trong những ngành chịu tác động trực tiếp của các yếu tố nhƣ thời tiết, khí hậu, nguồn nƣớc… Vậy nên ngành này thƣờng xuyên phải đối mặt với các diễn biến bất thƣờng khi Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Các yếu tố bất lợi nhƣ hạn mặn, hạn hán, chất lƣợng nƣớc, dịch bệnh… đã khiến nhiều ngƣời nuôi trồng thủy hải sản rơi vào tình trạng khó khăn, thua lỗ. Thời tiết trên biển Đông cùng với những cơn bão và áp thấp nhiệt đới cũng gây nhiều khó khăn cho hoạt động khai thác và đánh bắt.
Ngoài ra, ngành thủy sản Việt Nam đang phải cạnh tranh khốc liệt với một số quốc gia nhƣ Ấn Độ, Ecuador… khi các nƣớc đó đều đang tăng cƣờng nuôi tôm nguyên liệu để cung ứng ra thị trƣờng thế giới. Trung Quốc đã và đang mở rộng diện tích nuôi cá nhằm gia tăng nguồn cung ứng trong nƣớc, thậm chí là xuất khẩu khiến cho mặt hàng chủ lực của thủy sản Việt Nam là cá tra không chỉ lo ngại mất thị phần ở nƣớc này, mà còn gia tăng cạnh tranh tại thị trƣờng quốc tế. Đối mặt với nhiều khó khăn nhƣ vậy nên chúng ta cần phải đƣa ra những giải pháp khắc phục cấp thiết để giải quyết vấn đề này. Trƣớc mắt chúng ta nên hạn chế sự phát triển của các loại bệnh gây hại trực tiếp trên thủy sản.
Đây là thách thức quan trọng và khó khăn nhất đối với ngành thủy sản vì hiện nay có rất nhiều loại bệnh xuất hiện và lây lan một cách mạnh mẽ. Các tác nhân gây bệnh chủ yếu là do vi khuẩn và ký sinh trùng (KST). Và một trong những bệnh gây thiệt hại lớn và thƣờng xuyên xảy ra nhất là bệnh xuất huyết do vi khuẩn 1 Aeromonas gây ra. Đây là bệnh có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn nuôi với tỷ lệ hao hụt có thể lên đến 90% (Từ Thanh Dung & cs, 2015).
Do vậy, đề tài “Phân lập và nghiên cứu đặc điểm sinh học của vi khuẩn Aeromonas spp. gây bệnh trên cá” đƣợc thực hiện để nhằm nghiên cứu và cung cấp dữ liệu về vi khuẩn Aeromonas spp. trên cá bị bệnh xuất huyết. Mục đích, nội dung nghiên cứu 1.
Mục đích Phân lập và nghiên cứu đặc điểm sinh học của chủng vi khuẩn Aeromonas spp. gây bệnh xuất huyết trên cá. Nội dung Phân lập đƣợc một số các chủng vi khuẩn Aeromonas spp. gây bệnh trên cá.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của các chủng vi khuẩn đã phân lập. Đánh giá khả năng gây bệnh của Aeromonas spp. trên cá rô phi giống trong điều kiện thực nghiệm nhằm làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về phòng bệnh do vi khuẩn gây bệnh trên cá rô phi nuôi. Định danh các chủng vi khuẩn đã phân lập bằng phƣơng pháp sinh học phân tử.
2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Vài nét tình hình nuôi trồng thủy sản Thuỷ sản là ngành công nghiệp mang tính toàn cầu lớn. Đây là ngành công nghiệp đa dạng và cung cấp nhiều chủng loại sản phẩm, tối đa hoá thị trƣờng nhập khẩu và xuất khẩu (Vũ Thị Hoài Phƣơng, 2017). Nuôi trồng thủy sản là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng nhất có thể cung cấp cho toàn bộ dân số nguồn protein có nguồn gốc động vật và giảm tình trạng thiếu lƣơng thực do dân số quá đông.
Trên thực tế, khoảng 16% lƣợng protein động vật đƣợc tiêu thụ trên toàn cầu có nguồn gốc từ cá và hơn một tỷ ngƣời phụ thuộc vào cá là nguồn cung cấp protein chính (Buentello & cs. Năm 2020, sản lƣợng nuôi trồng thủy sản toàn cầu đạt kỷ lục 122,6 triệu tấn, với tổng giá trị 281,5 tỷ USD. Vào năm 2020, đƣợc thúc đẩy bởi sự mở rộng ở Chile, Trung Quốc và Na Uy, sản lƣợng nuôi trồng thủy sản toàn cầu đã tăng ở tất cả các khu vực ngoại trừ châu Phi, do sự sụt giảm ở hai nƣớc sản xuất chính là Ai Cập và Nigeria. Phần còn lại của châu Phi có mức tăng trƣởng 14,5% so với năm 2019.
Châu Á tiếp tục thống trị ngành nuôi trồng thủy sản thế giới, sản xuất 91,6% tổng sản lƣợng. Tăng trƣởng nuôi trồng thủy sản thƣờng xảy ra với chi phí của môi trƣờng. Phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững vẫn là yếu tố quan trọng để cung cấp nhu cầu ngày càng tăng về thức ăn thủy sản (FAO, 2022). Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản (2020), tổng sản lƣợng thủy sản của cả nƣớc năm 2021 đạt 8,73 triệu tấn, tăng 1% so với năm 2020 (8,64 triệu tấn), trong đó sản lƣợng khai thác đạt 3,92 triệu tấn, tăng 0,9% với năm 2020 (3,88 triệu tấn), nuôi trồng đạt 4,8 triệu tấn, tăng 1% với năm 2020 (4,76 triệu tấn).
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2021 đạt 8,89 tỷ USD, tăng 5,7% so với năm 2020 (8,41 tỷ USD). 3 Với đƣờng bờ biển dài hơn 3.260 km, cùng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, Việt Nam hầu nhƣ đáp ứng khá tốt điều kiện đánh bắt và nuôi trồng nhiều loài thủy hải sản trên toàn quốc. Đây chính là tiềm năng lớn cho sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản. Nghề nuôi trồng thủy sản ở nƣớc ta không chỉ dừng lại ở những ao nuôi tôm, nuôi cá hay ruộng lúa nuôi kết hợp, mà còn tiến đến làm chủ các công nghệ nuôi trên biển nhƣ công nghệ nuôi hải sản trên biển đang là tiềm năng to lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam.
Trong đó, tiềm năng gia tăng diện tích nuôi trồng nhiều loài thủy sản trong dài hạn vẫn còn rất lớn. Với xu hƣớng áp dụng khoa học công nghệ ngày càng mạnh mẽ vào họat động nuôi trồng, đánh bắt và chế biến để đáp ứng yêu cầu chất lƣợng ngày càng cao của các nƣớc nhập khẩu, ngành thủy sản Việt Nam có nhiều cơ hội để nâng cao chất lƣợng, hạ giá thành, tiết kiệm chi phí, cải thiện hiệu quả sản xuất. Hệ thống sản xuất thủy sản nuôi trồng ở Việt Nam chủ yếu là các trang trại nuôi cá và các loài thủy sản khác ở vùng nƣớc ngọt và nƣớc lợ. Nuôi biển mới đƣợc du nhập gần đây và chỉ chiếm khoảng 4% diện tích nuôi trồng thủy sản cả nƣớc.
Các loại thủy sản thế mạnh tại Việt Nam gồm: cá da trơn, tôm, cá rô phi cùng với một số chủng loại đang trên đà tăng trƣởng nhƣ các loài nhuyễn thể có vỏ và cá biển nhƣ cá bớp, cá tuyết và cá mú. Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh nhất tại các tỉnh đồng bằng sông Mekong, chiếm đến 75% - 80% sản lƣợng cá da trơn và tôm toàn quốc. Những năm gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản ở nƣớc ta đã phát triển mạnh đáng kể theo hƣớng công nghiệp hoá ngày càng cao. Để đáp ứng sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững, nƣớc ta đã có nhiều cơ sở nghiên cứu bệnh cá, tôm, hình thành nhiều phòng thí nghiệm bệnh học thủy sản với đủ trang thiết bị phục vụ tốt công tác giảng dạy, nghiên cứu và chẩn đoán bệnh các động vật thủy sản, những kết quả nghiên cứu đƣợc bổ sung dần vào môn học sát với thực tế hơn và ngày càng hoàn chỉnh và phong phú hơn.
4 Nhìn chung, Việt Nam có lợi thế lớn để phát triển nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản trong lâu dài. Các tác nhân gây bệnh trên thủy sản Lĩnh vực nuôi trồng thủy hải sản mở ra cơ hội rất lớn cho bà con nhà nông. Thế nhƣng vì mức độ thâm canh hoá ngày càng cao đã dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều mầm bệnh nguy hiểm đe dọa đến sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp và gây thiệt hại nghiêm trọng về mặt kinh tế trực tiếp cho ngƣời nông dân. Nguyên nhân gây bệnh trên cá gồm các tác nhân sinh học nhƣ virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, các yếu tố môi trƣờng không thuận lợi cho cá nhƣ hiện tƣợng thiếu ôxy hòa tan, nguồn nƣớc bị ô nhiễm, hoặc chế độ dinh dƣỡng cho cá nuôi không phù hợp về chất lƣợng và số lƣợng.
Yếu tố môi trường thường dễ làm cá mắc bệnh: Nhiệt độ nƣớc: mỗi loài tôm cá ở mỗi giai đoạn phát triển thích ứng với một loại nhiệt độ khác nhau. Khi gặp thời tiết thay đổi đột ngột nhƣ mƣa gió, lũ lụt, gió mùa đông bắc tràn về dễ làm cho nhiệt độ nƣớc thay đổi đột ngột, làm cá bị sốc. Độ pH: Nếu độ pH < 5 hoặc > 9,5 có thể làm cho tôm cá yếu đi hay chết. Lƣợng oxy hòa tan trong nƣớc: Hàm lƣợng oxy hoàn tan trong nƣớc nhiều hay ít, cao quá hay thấp quá đều ảnh hƣởng đến đời sống của tôm cá.
Nếu hàm lƣợng oxy xuống thấp dƣới 1mg/lít, nhiều loài tôm, cá sẽ nổi đầu, dẫn đến chết vì ngạt. Ngƣợc lại nếu hàm lƣợng oxy quá cao thƣờng làm cho tôm cá bị bệnh bọt khí. Một số yếu tố thủy hóa khác: Chẳng hạn nhƣ trong nƣớc và đất có hàm lƣợng kim loại nặng tƣơng đối cao nhƣ chì, kẽm, thủy ngân… hay những chất độc do nƣớc thải sinh hoạt, nƣớc thải công nghiệp tồn tại lâu trong nƣớc nuôi cá. Yếu tố gây bệnh do con người: Trong khi nuôi, con ngƣời đã sử dụng một số biện pháp kỹ thuật chƣa hợp lý: 5 o Chọn mật độ nuôi và tỷ lệ ghép chƣa phù hợp.
o Quản lý chăm sóc không chu đáo. o Các tổn thƣơng gây ra do các thao tác nhƣ kéo lƣới vận chuyển. Những yếu tố gây bệnh do tác nhân gây bệnh (do sinh vật):Các bệnh thƣờng gặp đa số cảm nhiễm hoặc sự xâm nhập của các sinh vật làm tôm cá mắc bệnh. Những sinh vật làm tôm cá mắc bệnh gọi là tác nhân gây bệnh.
Thông thƣờng, có các tác nhân gây bệnh sau: Các tác nhân gây bệnh là virus, vi khuẩn, nấm mang tính thực vật đƣợc gọi chung là vi sinh vật. Bệnh của nó gây ra thƣờng là bệnh truyền nhiễm. Các tác nhân gây bệnh là nguyên sinh động vật, giun sán, giáp xác… mang tính động vật gọi là kí sinh trùng. Bệnh của nó gây ra thƣờng là bệnh ký sinh.