Tổng quan luận án
Chính sách công giữ vai trò là công cụ định hướng quá trình phát triển kinh tế và xã hội của nhà nước. Trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước tại Việt Nam, công tác xây dựng và thực thi chính sách công vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định như việc xác định mục tiêu, biện pháp chính sách chưa bám sát thực tiễn; mức độ huy động trí tuệ và nguồn lực xã hội chưa cao, đặc biệt là sự tham gia của nhân dân vào các giai đoạn của chu trình chính sách còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc hoạt động tham vấn và phản biện xã hội (PBXH) chưa được đặt đúng tầm mức, thiếu cơ chế và quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin phản biện đồng bộ, khiến hoạt động phản biện chính sách còn bó hẹp trong phạm vi các tổ chức thuộc hệ thống chính trị.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phản biện chính sách công (PBCSC) trong điều kiện thể chế chính trị một đảng cầm quyền, vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ và không có đối trọng đa đảng. Bên cạnh đó, các vấn đề về mô hình, quy trình chuẩn hóa, công cụ và điều kiện đảm bảo cho hoạt động phản biện chính sách ở cấp độ địa phương chưa được làm sáng tỏ một cách thỏa đáng.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Luận giải cơ sở khoa học về PBCSC; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động PBCSC tại Việt Nam (trọng tâm là khu vực miền Trung, Tây Nguyên); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và đổi mới quy trình PBCSC nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, thực thi chính sách trong quản lý hành chính công.
- Nhiệm vụ:
- Khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về PBXH và PBCSC, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục làm rõ.
- Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về PBCSC phù hợp với bối cảnh thể chế Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động PBCSC tại một số tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên, chỉ ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng phản biện.
- Đề xuất đổi mới mô hình, quy trình và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động PBCSC trong thời gian tới.
Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu:
- Giả thuyết khoa học: Phản biện chính sách công là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội, là thành tố của quá trình xây dựng và thực thi chính sách công. PBCSC ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế do khung pháp lý chưa đầy đủ, cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin phản biện chưa được pháp lý hóa rõ ràng, thiếu quy trình chuẩn và các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Tiền đề lý luận và thực tiễn của PBCSC ở Việt Nam là gì?
- Vai trò của PBCSC trong xây dựng, thực thi chính sách và xây dựng nền hành chính phục vụ là gì?
- Mô hình, quy trình, hình thức và phương pháp phản biện chính sách nào phù hợp với thực tiễn Việt Nam?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng và điều kiện nào cần thiết để đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động PBCSC?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động PBCSC của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam tại một số tỉnh, thành phố khu vực miền Trung, Tây Nguyên và hoạt động PBCSC của người dân trong khu vực.
- Phạm vi nội dung: Các lý thuyết, mô hình PBCSC quốc tế; quan điểm của Đảng, pháp luật Việt Nam về PBXH và PBCSC; chủ thể, quy trình, phương thức và điều kiện tổ chức PBCSC.
- Phạm vi không gian: Khảo sát trong nước tại 06 địa phương gồm 02 tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai) và 04 tỉnh, thành phố miền Trung (Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định). Tham chiếu kinh nghiệm quốc tế tại Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore.
- Phạm vi thời gian: Hoạt động PBCSC tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu ngoài nước được tác giả phân loại theo các nhóm chủ đề:
- Nhóm lý thuyết về tư duy phản biện và giải cấu trúc quyền lực: Tác phẩm How We Think (1910) của John Dewey đặt nền móng cho khái niệm tư duy phản biện (Reflective thought). Các công trình tiếp nối như Critical Theory and Public Life (1987) của John Forester; Alec Fisher và Michael Scriven; Francis Watanabe Dauer (1989); Periklis Pavlidis (2010); Brooke Noel Moore và Richard Parker. Lý thuyết phê phán thể chế và giải cấu trúc quyền lực của Michel Foucault (The Subject and Power, Discipline and Punish) và Jacques Derrida giải thích mối quan hệ giữa quyền lực thống trị (dominant power), quyền lực phản kháng (resistant power) và vai trò của đối thoại hòa bình thay thế xung đột.
- Nhóm nghiên cứu về tham gia công dân và quy trình chính sách: Công trình A Ladder of Citizen Participation của Sherry R. Arnstein (1969) phân chia sự tham gia thành 03 cấp độ (Nonparticipation, Tokenism, Citizen Power) với 08 mức độ. Jerri Cockrel (1997) trong Public Policymaking in America mô tả mô hình "Tam giác sắt" (Iron Triangle) và "Cụm quyền lực" (Power Clusters) tại Hoa Kỳ. Ann Macintosh (2004) nghiên cứu về tham gia điện tử (E-Participation) và dân chủ điện tử (E-Democracy) tại Vương quốc Anh. Susan D. Phillips và Michael Orsini (2002) cùng cẩm nang Handbook on Citizen Engagement (2008) của Bộ Tư pháp Canada phân tích các đặc trưng tương tác hai chiều trong tiến trình chính sách.
- Nhóm nghiên cứu tại các quốc gia châu Á: Nguyễn Hải Hoành (2012) phân tích hệ thống Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân (CPPCC) và mạng lưới Think tank tại Trung Quốc. Các nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội (2009), cùng tư tưởng của Mahathir Mohamad và Lý Quang Diệu về các "giá trị châu Á", chỉ ra tính tập trung, sự gắn kết với nhà nước và việc kiểm soát hoạt động phản biện trong khuôn khổ ổn định xã hội.
Các công trình nghiên cứu trong nước:
- Nghiên cứu về bản chất, vai trò của PBXH: Trần Đăng Tuấn (2006), Nguyễn Trần Bạt (2006, 2007), đề tài khoa học cấp nhà nước KX.10-06/06-10 do Trần Hậu chủ nhiệm (2009), Hoàng Thị Ngân (2010), Hà Thị Thuỳ Dương (2012), Nguyễn Trọng Bình (2009), Phạm Quang Tú (2012), Đặng Hoàng Giang.
- Nghiên cứu về chủ thể PBXH: Nguyễn Thọ Ánh nghiên cứu chức năng giám sát và PBXH của MTTQVN; Đặng Thị Thu Hương (2013) và Hoàng Thủy Chung (2010) tiếp cận vai trò phản biện của cơ quan báo chí truyền thông.
- Nghiên cứu về cơ chế thể chế và pháp lý: Tương Lai (2007), Hồ Bá Thâm và Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2010), Trần Ngọc Đường (2011), Nguyễn Văn Mạnh và Tào Thị Quyên (2010), Nguyễn Đăng Dung (2010).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Phần lớn các công trình trong nước tiếp cận PBXH ở góc độ chính trị học tổng quát hoặc gắn với hoạt động của hệ thống chính trị, chưa đi sâu vào chu trình chính sách công cụ thể. Luận án lựa chọn giải quyết vấn đề mô hình, quy trình, cơ chế vận hành của PBCSC trong điều kiện thể chế chính trị một đảng cầm quyền tại Việt Nam; xác định tính chất phản biện "hướng tâm" (hướng đến sự xây dựng, đồng thuận) thay vì "ly tâm" (đối trọng, phản đối); đồng thời tiến hành khảo sát thực nghiệm tại địa bàn 06 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:
- Khái niệm PBXH: Tiếp cận ở cấp độ hẹp, PBXH là sự nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến và kiến nghị của các lực lượng xã hội (công dân, tổ chức xã hội) đối với các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước (theo định nghĩa tại Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị).
- Khái niệm PBCSC: Là hoạt động PBXH của công dân và tổ chức xã hội đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của nhà nước, từ giai đoạn khởi sự, soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực hiện, đến đánh giá chu trình chính sách.
- Các lý thuyết và mô hình tham chiếu: Lý thuyết tư duy phản biện (John Dewey), lý thuyết kiểm soát và phân tán quyền lực (Michel Foucault, Jacques Derrida), lý thuyết thang bậc tham gia công dân (Sherry R. Arnstein), mô hình mạng lưới quyền lực (Jerri Cockrel), mô hình tham gia điện tử (Ann Macintosh).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phân tích tài liệu: Thống kê, phân loại tài liệu sơ cấp và thứ cấp; phương pháp so sánh kinh nghiệm quốc tế; phân tích ma trận SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hoạt động PBCSC tại Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa (định lượng): Thực hiện khảo sát bằng 600 phiếu điều tra xã hội học tại 06 tỉnh, thành phố (Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định). Nhóm đối tượng khảo sát gồm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong độ tuổi từ 30 đến 60, trình độ học vấn từ cấp III trở lên. Số liệu thu thập được mã hóa và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
- Phương pháp mô hình hóa và trừu tượng hóa: Thiết lập các sơ đồ quy trình phản biện chính sách gián tiếp và trực tiếp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
Văn kiện của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; báo cáo tổng kết hoạt động của Ủy ban MTTQVN và Liên hiệp các hội KH&KT tại 06 tỉnh nghiên cứu; dữ liệu điều tra thực nghiệm 600 phiếu khảo sát; các tài liệu, ấn phẩm học thuật xuất bản trong nước và quốc tế.
| Thuộc tính phương pháp |
Chi tiết triển khai trong luận án |
| Phương pháp luận |
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, Nhà nước pháp quyền XHCN |
| Địa bàn khảo sát thực địa |
06 địa phương: Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai |
| Quy mô mẫu khảo sát |
600 phiếu điều tra xã hội học (đối tượng 30-60 tuổi, học vấn từ cấp III trở lên) |
| Công cụ xử lý số liệu |
Phần mềm SPSS, phân tích SWOT, mô hình hóa quy trình |
| Phạm vi khảo sát quốc tế |
Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phản biện chính sách công
Chương này tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến PBXH và PBCSC. Về mặt quốc tế, luận án phân tích các mô hình phương Tây đặc trưng bởi tính cạnh tranh, cấu trúc "Tam giác sắt" và các nhóm lợi ích tại Hoa Kỳ, mô hình tham gia điện tử tại Anh, và mô hình tương tác hai chiều tại Canada. Luận án tổng hợp bảng so sánh đặc trưng giữa truyền thông một chiều và tham gia công dân tương tác hai chiều:
| Đặc trưng |
Tham gia công dân (Citizen Engagement) |
Truyền thông / Tư vấn truyền thống |
| Chủ thể tham gia |
Công dân trực tiếp với tư cách cá nhân |
Thường thông qua đại diện hoặc tiếp nhận thụ động |
| Phương thức giao tiếp |
Trao đổi hai chiều, tương tác lặp lại giữa chính phủ và công dân |
Truyền đạt thông tin một chiều từ nhà nước ra xã hội |
| Mục tiêu quyền lực |
Chia sẻ quyền lực ra quyết định và trách nhiệm giải trình |
Lắng nghe ý kiến mang tính tham khảo, không bắt buộc |
| Giai đoạn thực hiện |
Toàn bộ chu trình (thiết lập nghị sự, soạn thảo, thực thi, đánh giá) |
Chủ yếu tập trung vào khâu lấy ý kiến dự thảo văn bản |
Đồng thời, chương 1 đối chiếu với các mô hình tại châu Á như Trung Quốc (hoạt động phản biện thông qua CPPCC và hệ thống hơn 2.500 think tank nhà nước), Singapore và Malaysia (chú trọng ổn định và đồng thuận xã hội). Đối với các công trình trong nước, tác giả tổng kết các kết quả đạt được về nhận thức vị trí, vai trò của MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời chỉ ra 03 vấn đề trọng tâm cần luận án giải quyết: cơ sở lý luận trong bối cảnh thể chế một đảng cầm quyền, đánh giá thực chứng tại miền Trung - Tây Nguyên, và đề xuất quy trình phản biện mới.
Chương 2: Cơ sở lý luận về phản biện chính sách công
Chương 2 tập trung phân tích các khái niệm cốt lõi, tính tất yếu khách quan và vai trò của PBCSC trong quản lý nhà nước. Tác giả phân tích sự chuyển hóa thuật ngữ từ "social criticism", "reflective thought" đến "phản biện xã hội" và "phản biện chính sách công" tại Việt Nam. Luận án khẳng định PBCSC là nhu cầu khách quan nhằm hạn chế ý chí chủ quan, lợi ích nhóm, phát hiện điểm mù chính sách và gia tăng tính minh bạch của nền hành chính.
Chương này phân tích các thang bậc tham gia của công dân (tham chiếu thang bậc của Sherry R. Arnstein - Bảng 2.1), sự tham gia của các tổ chức xã hội và tổ chức phi chính phủ trong chu trình chính sách tại châu Âu (Bảng 2.2, Bảng 2.4), khung khổ lựa chọn hình thức tham vấn, phản biện chính sách (Bảng 2.3) và các cấp độ, hình thức, công cụ phản biện (Bảng 2.5). Tác giả phân tích mối quan hệ giữa nhà nước và tổ chức xã hội, chỉ ra các yếu tố cấu thành chất lượng phản biện gồm: khung pháp lý, năng lực chủ thể, môi trường thông tin và văn hóa đối thoại dân chủ.
Chương 3: Thực trạng phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên
Chương 3 trình bày bức tranh tổng thể về kinh tế - xã hội tại 06 tỉnh, thành phố nghiên cứu (Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định). Tác giả rà soát hệ thống văn bản pháp lý quy định về PBCSC tại Việt Nam (Hiến pháp 2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quyết định số 217-QĐ/TW).
Dựa trên kết quả điều tra 600 phiếu xã hội học được xử lý qua phần mềm SPSS và báo cáo thực tế, chương này đánh giá hoạt động phản biện của MTTQVN và Liên hiệp các hội KH&KT tại địa bàn khảo sát. Tác giả phân tích quy mô, phạm vi, công cụ và quy trình vận hành thực tế qua hai kênh:
- Quy trình phản biện gián tiếp: Thực hiện thông qua MTTQ và các tổ chức thành viên (Hình 3.3).
- Quy trình phản biện trực tiếp: Sự tham gia trực tiếp của công dân trong các bước chính sách (Hình 3.4, Hình 3.5).
Luận án chỉ ra các hạn chế thực tế: hoạt động phản biện tại địa phương còn mang tính hình thức, thời gian dành cho phản biện dự thảo văn bản còn ngắn; cơ chế tiếp thu, phản hồi và giải trình của cơ quan soạn thảo chưa có chế tài bắt buộc; tình trạng thông tin bất đối xứng; năng lực phản biện chuyên sâu của cán bộ đoàn thể còn hạn chế.
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách công ở Việt Nam
Chương 4 xác định các quan điểm định hướng nâng cao chất lượng PBCSC gắn liền với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách hành chính công. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Thể chế hóa rõ ràng quy trình, thời hạn, trách nhiệm giải trình và tiếp thu bắt buộc của cơ quan nhà nước đối với văn bản phản biện.
- Đổi mới quy trình phản biện chính sách: Xây dựng mô hình đổi mới quy trình phản biện gián tiếp (Hình 4.1) và mô hình đổi mới quy trình phản biện trực tiếp (Hình 4.2); chuẩn hóa quy trình chung (Hình 4.3) và xác định yêu cầu phản biện cụ thể trong từng bước của chu trình chính sách (Hình 4.4).
- Nâng cao năng lực chủ thể: Tăng cường vai trò chuyên gia của Liên hiệp các hội KH&KT, kiện toàn bộ máy phản biện của MTTQVN, bồi dưỡng kiến thức phân tích chính sách cho đội ngũ cán bộ.
- Ứng dụng công nghệ và nguồn lực bảo đảm: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua mô hình tham gia điện tử (E-Participation), công khai dữ liệu chính sách, bố trí kinh phí và cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu phản biện độc lập.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận chứng bản chất và vai trò của PBCSC như một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội trong điều kiện hệ thống chính trị nhất nguyên, một đảng cầm quyền.
- Phân định tính chất "hướng tâm" của hoạt động PBCSC tại Việt Nam (hướng tới sự đồng thuận, hoàn thiện chính sách, hỗ trợ quản lý nhà nước) khác biệt với tính chất "ly tâm" (đối kháng, cạnh tranh quyền lực) của các nền chính trị đa nguyên phương Tây.
- Hệ thống hóa các khái niệm, cấp độ, hình thức, công cụ và các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động PBCSC trong quản lý hành chính công.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về thực trạng PBCSC tại 06 tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên thông qua khảo sát 600 đối tượng xã hội học, chỉ rõ những bất cập về quy trình vận hành và khung pháp lý tại địa phương.
- Đề xuất các sơ đồ quy trình đổi mới hoạt động PBCSC theo hai kênh trực tiếp và gián tiếp, phân định rõ trách nhiệm và phương thức tương tác giữa cơ quan soạn thảo chính sách và các chủ thể phản biện.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Thể chế hóa trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước khi tiếp nhận văn bản phản biện xã hội.
- Chuẩn hóa quy trình lấy ý kiến và phản biện trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Ứng dụng các nền tảng kỹ thuật số để thúc đẩy sự tham gia trực tiếp của công dân vào chu trình chính sách công.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Dữ liệu thực nghiệm tập trung chủ yếu tại 06 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định) trong giai đoạn 2010–2019, chưa bao quát toàn bộ các vùng kinh tế - xã hội khác trên phạm vi toàn quốc.
- Chưa đi sâu định lượng mức độ tác động kinh tế cụ thể sau khi các ý kiến phản biện được tiếp thu vào chính sách đã ban hành.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực địa tại các vùng đô thị lớn và các địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam.
- Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí lượng hóa đo lường mức độ tiếp thu và mức độ hài lòng của công dân đối với trách nhiệm giải trình của chính quyền trong phản biện chính sách.
- Khảo sát chuyên sâu tác động của các nền tảng chính phủ điện tử và mạng xã hội đối với hành vi tham gia phản biện chính sách của công dân.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Tài liệu cung cấp hệ thống lý thuyết về tham gia công dân, tư duy phản biện và chu trình chính sách công; là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Quản lý hành chính công và Chính sách công.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý, thiết kế quy trình lấy ý kiến tham vấn và nâng cao trách nhiệm giải trình trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Đối với Ủy ban MTTQVN và Liên hiệp các hội KH&KT: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp tổ chức, quy trình vận hành và kỹ năng phản biện chính sách chuyên nghiệp cho cán bộ đoàn thể và các nhà khoa học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm phản biện xã hội (PBXH) và phản biện chính sách công (PBCSC) như thế nào?
Luận án xác định PBXH là sự đánh giá, nhận xét của các lực lượng xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong khi đó, PBCSC là một bộ phận chuyên biệt của PBXH, tập trung trực tiếp vào toàn bộ chu trình chính sách công (từ bước khởi sự, soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực thi đến đánh giá chính sách).
2. Mẫu khảo sát thực địa của đề tài được lựa chọn và xử lý ra sao?
Đề tài thực hiện điều tra bằng 600 phiếu khảo sát xã hội học tại 06 tỉnh, thành phố miền Trung, Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định). Đối tượng điều tra gồm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, độ tuổi từ 30 đến 60, trình độ học vấn từ cấp III trở lên. Dữ liệu sau thu thập được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS.
3. Mô hình "Tam giác sắt" (Iron Triangle) trong nghiên cứu nước ngoài được luận án điểm lại với cấu trúc gì?
Mô hình "Tam giác sắt" (trích dẫn từ công trình của Jerri Cockrel, 1997 về hoạch định chính sách tại Hoa Kỳ) mô tả sự tương tác chặt chẽ giữa ba chủ thể: các nhóm lợi ích/hiệp hội (Interest Groups), ủy ban lập pháp của Quốc hội (Congressional Committees), và các cơ quan hành chính/hành pháp (Executive Agencies).
4. Điểm khác biệt căn bản của phản biện chính sách tại Việt Nam so với các nước phương Tây theo luận án là gì?
Tại các nước phương Tây với hệ thống chính trị đa nguyên, phản biện mang tính đối trọng, phân tán quyền lực và có xu hướng ly tâm. Ngược lại, tại Việt Nam với thể chế một đảng cầm quyền và nguyên tắc tập trung dân chủ, PBCSC không phải là sự đối trọng quyền lực mà mang tính chất hướng tâm, nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, bổ sung trí tuệ xã hội để hoàn thiện chính sách của nhà nước.
5. Luận án đề xuất những mô hình quy trình phản biện nào trong chương giải pháp?
Luận án đề xuất 04 sơ đồ quy trình: Mô hình đổi mới quy trình phản biện gián tiếp (Hình 4.1), Mô hình đổi mới quy trình phản biện trực tiếp (Hình 4.2), Quy trình chung (Hình 4.3) và Yêu cầu phản biện trong các bước chính sách (Hình 4.4).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Phản biện chính sách công ở Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên" của tác giả Cao Tiến Sỹ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phản biện chính sách trong nền hành chính nhà nước. Dựa trên việc phân tích các mô hình quốc tế và dữ liệu khảo sát thực nghiệm tại 06 địa phương miền Trung, Tây Nguyên, công trình đã làm rõ thực trạng, rào cản và đặc thù của hoạt động phản biện chính sách trong thể chế chính trị Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống giải pháp và các mô hình quy trình chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, thực thi chính sách công, phục vụ tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước.