Chương 1 CO SO LY LUAN PHAP LUAT VE THUC HIEN HOP DONG LAO DONG VA SU DIEU CHINH CUA PHAP LUAT LAO DONG 1. Khái quát chung về hợp đồng lao động theo pháp luật Việt Nam 1. Khai niém hợp đồng lao động Trong hệ thống pháp luật lao động, chế định HĐLĐ là chế định chiếm vị trí quan trọng và giữ vai trò trung tâm điều chỉnh quan hệ lao động. HĐLĐ vừa là hình thức pháp lý ghi nhận quan hệ của các bên vừa là “hành lang” pháp lý giữ vai trò định hướng giúp các bên có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp pháp của mình mà không đi chệch hướng.
“Hợp đẳng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyễn và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” [26, Điều 8]. BLLĐ năm 2019 đã có thay đổi theo hướng điều chỉnh bản chất của quan hệ lao động hơn là chú trọng vào hình thức thể hiện. BLLĐ 2012 quy định: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điễu kiện làm việc, quyên và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” [26, Điều 15]. Điểm khác biệt ở đây là định nghĩa này đã mở rộng khái niệm “á công, tiền lương” thay vì “trả lương” trong quy định BLLĐ 2012.
Điều này đồng nghĩa với việc BLLĐ năm 2019 đã chú trọng tới bản chất, nội dung của HĐLĐ thay vì chỉ dựa vào hình thức của HĐLĐ, chỉ cần nội dung là việc làm có trả công cũng được xác định thỏa mãn dấu hiệu nội dung của HĐLĐ thay vì chỉ là khu trú trong khái niệm “trả lương”. Điều này cũng là hoàn toàn phù hợp với một quy định rất mới mẻ, mở rộng khái niệm về NLĐ “1à người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động” [26, Điều 3]. Theo quy định mới này thì yếu tố “hợp đồng lao động” không còn trong định nghĩa NLĐ nữa. Đồng thời, khái niệm “hợp đồng lao động” cũng được BLLĐ năm 2019 mở rộng hơn, không bị phụ thuộc vào tên gọi của hợp đồng mà hai bên ký kết “Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lÿ, điều hành, giảm sát của một bên thì được coi là hợp dong lao động ” [26].
Như vậy, chỉ cần có đủ dấu hiệu: (¡) có sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ, (ii) việc làm có trả công, tiền lương và (iii) có sự quản lý điều hành, giám sát của một bên thì được xác định là HĐLĐ mà không cần quan tâm đến tên gọi loại hợp đồng mà các bên đã ký kết. Đây là những dấu hiệu được ILO đề cập trong Công ước, khuyến nghị của mình khi nhận diện HĐLĐ so với các quan hệ dân sự khác. Mặt khác, quy định này cũng sẽ khắc phục được hạn chế trong thực tiễn khi NSDLĐ thường sử dụng các tên gọi khác nhau hợp đồng thuê khoán chuyên môn, hợp đồng cộng tác viên. để che lấp quan hệ lao dong voi NLD để “lách luật”, không phải thực hiện các nghĩa vụ về bảo hiểm, tiền lương và các chế độ, chính sách đối với NLĐ.
Đặc điểm của hợp đồng lao động Với tư cách là một loại khế ước, HĐLĐ mang những đặc điểm nói chung của hợp đồng đó là sự tự do, tự nguyện và bình dang của các chủ thể trong quan hệ. Song, với tư cách là hình thức pháp lí của quá trình trao đôi, mua báo loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao động, HĐLĐ có những đặc trưng riêng so với các khế ước khác trong thị trường, trong đời sống xã hội. Về vấn đề này, khoa học luật lao động của các nước thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau đều thừa nhận. Tuy nhiên, khi tiếp cận vấn đề này cũng có sự khác nhau nhất định giữa các hệ thống, thậm chí trong cùng một hệ thống luật pháp.
Khoa học luật lao động Trung Quốc cho rằng HĐLĐ có những đặc trưng cơ bản sau: (¡) tính chủ thể: HĐLĐ phải nhất thiết phải có một bên là NLĐ và một bên là NSDLĐ và không thể nhờ người khác thay thế, vì vậy HĐLĐ theo quan điểm của nhà làm luật Trung Quốc mang tính nhân thân, mục đích của HĐLĐ là hoàn thành quá trình lao động, không phải là sự thực hiện kết quả lao động; (1) HĐLĐ là do hai bên thỏa thuận, lựa chọn xác định; (ii) HĐLĐ là hợp đồng có trả công; (iv) HĐLĐ trong trường hợp bình thường vẫn phải đề cập đến lợi ích của người thứ ba (vợ, chồng, con của NLĐ). Lý luận về luật lao động của Pháp lại cho rằng, đặc trưng của HĐLĐ là: phải có sự cung ứng sức lao động thông qua hành vi lao động trực tiếp, thực tế của NLĐ cho NSDLĐ; phải có sự trả công tương xứng với sức lao động của NLĐ bỏ ra; phải có yếu tố quản lý giữa NSDLĐ và NLĐ. Những nước theo hệ thống thống luật lại cho rằng đặc trưng quan trọng nhất của HĐLĐ là yếu tố quản lý mang tính kiểm soát liên tục, chỉ tiết và có tính áp đặt, kết luận này được rút ra từ các án lệ, nhằm mục đích nêu lên những đặc trưng của HĐLĐ với các hợp động có nội dung tương tự như hợp đồng dịch vụ trong dân sự. Ở nước ta, các nhà khoa học pháp lý khi tiếp cận khái nệm HDLD cũng ít nhiều có sự kế thừa và kết hợp quan điểm của các nhà làm luật Trung Quốc và Pháp.
Xuyên suốt từ BLLĐ năm 1994 đến BLLĐ năm 2012, các nhà làm luật của Việt Nam luôn giữ nguyên khái niệm cơ bản của HĐLĐ “là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công/trả lương, điều kiện làm VIỆC, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động” [18, tr. Vì vậy có thể nói, BLLĐ năm 2019 đã mở rộng khái nệm HĐLĐ không chỉ xoay quanh mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ trên cơ sở HĐLĐ, mà đã đi sâu vào bản chất của quan hệ lao động (1) Có sự thỏa thuận giữa NLĐÐ và NSDLD), (11) việc làm có trả công, tiền lương và (11) có sự quản lý điều hành, giám sát của một bên. HĐLĐ theo pháp luật Việt Nam có một đặc trưng cơ bản sau: 10 - Thứ nhất, có sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ với NSDLĐ Day là đặc trưng được coi là tiêu biểu nhất của HĐLĐ mà các hệ thông pháp luật khác nhau đều thừa nhận. Có thê thấy trong tất cả các loại quan hệ khế ước, duy nhất HĐLĐ tôn tại đặc trưng này bởi xuất phát từ sự phụ thuộc phap ly cua NLD voi NSDLD.
Trong quan hệ lao động, NSDLĐ sở hữu lợi thế lớn về mặt kinh tế. Bản chất của quan hệ pháp luật lao động giữa NLĐ và NSDLĐ là quan hệ mua bán sức lao động. Do đó, NLĐ tham gia quan hệ lao động với mục đích bán sức lao động của mình cho NSDLĐ thông qua quá trình lao động dé kiếm thu nhập phục vụ cho nhu cầu cuộc sông. Ngược lại NSDLĐ chính là bên trả tiền công, tiền lương cho họ.
Bên cạnh đó, khi làm việc, NLĐ phải thực hiện theo đúng nội quy, quy định, nguyên tắc theo sự thiết lập của NSDLĐ. NSDLĐ là chủ thể có quyền quản lý, giám sát, yêu cầu NSDLĐ phải làm việc theo tiêu chuẩn mà mình đề ra. NSDLĐ cũng có quyền khen thưởng cũng như kỷ luật NLĐ theo quy định. Do chứa đựng sự phụ thuộc giữa NLĐÐ và NSDLĐ nên yếu tố bình đăng trong HĐLĐ dường như mờ nhạt hơn so với các hợp đồng dân sự, thương mại.
Vì vậy để phần nào bình đăng hóa quan hệ lao động, pháp luật lao động của nước ta đã bồ sung một sé quy dinh để bảo vệ NLĐ, hạn chế bớt sự lạm quyền của NSDLĐ. Có thể nói, pháp luật về lao động đã cố gắng tạo ra hành lang pháp lý để có thé bao vé NLĐ trong mối quan hệ bất bình đăng với NSDLĐ trong quan hệ lao động. - Thứ hai, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công. Đối tượng của HĐLĐ là sức lao động gắn với NLD cu thé, trong quan hệ mua bán này, NSDLĐ đồng thời được “sở hữu” toàn bộ quá trình lao động cua NLD bao gom: chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ, kỹ năng.
của NLĐ và để thực hiện được những yêu cầu nói trên, NLĐ phải cung ứng sức lao động 11 của chính mình thông qua thời gian làm việc được các bên thống nhất. Như vậy, cái mà NSDLĐ mong muốn tìm kiếm từ NLĐ chính là công việc (việc làm) nhằm mang lại lợi ích cho cả 2 bên, việc làm là đối tượng của HĐLĐ là việc làm được định giá bằng tiền công hoặc tiền lương. Khi NLĐ hoàn thành công việc theo tiêu chuẩn, yêu cầu của NSDLĐ thì NSDLĐ có trách nhiệm trả công theo thỏa thuận với NLĐ mà không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh, lợi nhuận của NSDLĐ. Việc xác định đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công, không chỉ có ý nghĩa trong việc đưa ra một trong những căn cứ đề phân biệt HĐLĐ với các loại hợp đồng khác có nội dung tương tự, mà còn có ý nghĩa với chính quan hệ HĐLĐ, như trường hợp xác định chủ thé 1a NSDLD trong quan hé cho thuê/mượn nhân công, cho thuê lại lao động.
khi xảy ra các sự kiện pháp lý. - Thứ ba, HĐLĐ do đích danh người lao động thực hiện Đặc điểm này được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý, xuất phát từ bản chất của quan hệ HĐLĐ là thỏa thuận mua bán sức lao động của NLD hay viéc làm cụ thể được xác định, vì vay NLD phai tự mình thực hiện, không thể chuyên giao cho người khác thực hiện thay mình. Trong quan hệ lao động, các bên chú trọng đến toàn bộ quá trình lao động của NLĐ trong môi trường có sự chuyên môn hóa và hợp tác. Vì vậy, trong quan hệ HĐLĐ, NSDLĐ không chỉ lựa chọn NLĐ theo tay nghề, trình độ mà còn dựa vào yếu tố nhân thân, thái độ của NLĐ.
Chính vì thé, NLD phải trực tiếp thực hiện toàn bộ quá trình lao động theo thỏa thuận, không được chuyển giao cho bên thứ ba, cũng không để lại nghĩa vụ thực hiện HĐLĐ cho người thừa kế. Đây cũng là điểm khác biệt giữa HĐLĐ với các hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại, bởi bên cung cấp dịch vụ có thể uy quyén hoặc thuê bên thứ ba thực hiện nhiệm cụ của mình.