Chương 1 trình bày tầm quan trọng của ngân hàng cũng như nêu lên tính cấp thiết mà ngành ngân hàng phải đối mặt hiện nay đó là những tác động tiêu cực của RRTD đối với 30 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Bên cạnh đó, để đạt được mục tiêu chung của nghiên cứu là tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của các ngân hàng trên thì tác giả đã đưa ra các câu hỏi nghiên cứu bao gồm những lý do khách quan và lý do chủ quan nhằm cụ thể hóa việc tìm ra câu trả lời cho mục tiêu chung. Điều này giúp xác định được nội dung trọng tâm cũng như đối tượng và phạm vi mà tác giả cần phải theo dõi nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài. Dựa trên cơ sở đó, khóa luận xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu và trình bày phương pháp theo nghiên cứu định tính và định lượng được căn cứ từ những công trình nghiên cứu có sẵn.
Tiếp theo ở Cuối chương này thì bổ sung ý nghĩa đề tài và thực tiễn khoa học cùng với xây dựng cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương và tóm tắt ý chính về nội dung của mỗi chương. 8 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RRTD NGÂN HÀNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tín dụng ngân hàng và RRTD ngân hàng 2.1 Khái niệm RRTD ngân hàng Trong kinh tế, tín dụng được hiểu đơn giản là giao dịch qua lại giữa hai chủ thể, qua đó, bên cho vay chuyển giao tài sản (tiền hoặc tài sản khác) cho bên còn lại là bên vay sử dụng và bên nhận tài sản phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản (tiền hoặc tài sản khác) theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Theo Luật Tổ chức Tín dụng Việt Nam (2010) định nghĩa Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng có chức năng của tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có mục tiêu chính là đạt lợi nhuận. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) đã đưa ra khái niệm tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bẳng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Những nghiên cứu sơ khai về RRTD có thể bắt nguồn từ Black & Scholes (1973). Họ đưa ra một cơ bản mô hình cho rủi ro vỡ nợ của công ty, được gọi là mô hình cấu trúc của RRTD (Black & Scholes, 1973). Coyle (2000) định nghĩa RRTD là những tổn thất do khách hàng tín dụng từ chối hoặc không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn những gì còn nợ. Theo Chen & Pan (2012), RRTD là mức độ biến động giá trị của nợ các công cụ và các công cụ phái sinh do những thay đổi về chất lượng tín dụng cơ bản của bên vay và bên đối tác.
RRTD tương ứng với thay đổi chất lượng tín dụng của tổ chức phát hành chứng khoán hoặc đối tác (Giesecke, 2004). Có thể thấy, hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của ngân hàng và cũng là hoạt động tạo nguồn thu chủ yếu của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, tín dụng tiềm ẩn rất nhiều RRTD. RRTD có thể gây ra tổn thất tài chính, làm mất giá trị thị trường của vốn ngân hàng và trong trường hợp nghiêm trọng hơn là dẫn đến ngừng hoạt động của ngân hàng và trong trường hợp nghiêm trọng hơn là đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản.
Như vậy, khái niệm RRTD có thể được hiểu là một loại rủi ro về tổn thất tài 9 sản có thể xảy ra nếu một bên đối tác không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính hoặc hợp đồng đối với ngân hàng. Điều này bao gồm cả việc không trả được nợ khi đến hạn, dù là tiền gốc hay tiền lãi. Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng rủi ro tín dụng có khái niệm: Rủi ro tín dụng có thể gây ra tổn thất về tài chính xảy ra đối với ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợvà lãi vay theo thỏa thuận. Hay nói cách khác, rủi ro tín dụng xảy ra khi thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả về khoản vay và lãi trong thời hạn.
Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận và nguồn vốn của ngân hàng.2 Đặc điểm của RRTD Ngân hàng Tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại gắn liền với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Điều tất yếu của mọi ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tín dụng là phải chấp nhận rủi ro dựa trên mối quan hệ: Lợi nhuận – rủi ro. Do đó, các ngân hàng thương mại cần phải đánh giá tính khả thi của phương án kinh doanh dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích phù hợp với mức chấp nhận rủi ro. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà họ gánh chịu là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.
Tính đa dạng, phức tạp: Sự đa dạng, phức tạp của rủi ro tín dụng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Chẳng hạn như: loại hình thức tín dụng, quy định của pháp luật, sự chuyển biến của nền kinh tế, sự đa dạng của nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng… Tính gián tiếp, bị động: Về mặt bản chất, sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng, tình trạng rủi ro tín dụng mới xảy ra. Do đó chỉ khách hàng mới có đầy đủ thông tin về chất lượng, hiệu quả của khoản vay tín dụng đó. Vì thế, ngân hàng thương biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về những khó khăn hay thất bại của khách hàng, dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng và ngân hàng ở vào thế bị động, đưa ra những ứng phó chậm trễ.3 Phân loại RRTD Ngân hàng 2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: 1 Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSĐB. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng: Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay.
Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ. Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động 1 khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 2.4 Tác động của RRTD đối với các NHTM RRTD ngân hàng là vấn đề quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam. Hơn thế nữa, các ngân hàng kinh doanh hiệu quả sẽ tạo cho động lực kinh tế đất nước phát triển.
Vì thế, việc RRTD tại các NHTM tăng cao sẽ đẫn đến hàng loạt các hậu quả nghiêm trong theo phản ứng dây chuyền tác động xấu lên sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới của đất nước.1 Đối với nền kinh tế Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân. Vì vậy, khi một ngân hàng gặp phải RRTD dẫn đến bị phá sản thì người gởi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Việc phá sản ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và quản lý của công ty, chậm trả lương, đời sống người lao động trở nên khó khăn. Hơn nữa, khủng hoảng ngân hàng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nói chung.
Nó kìm hãm nền kinh tế, tăng giá, giảm sức mua, tăng tỷ lệ thất nghiệp và gây bất ổn xã hội. Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) và cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001- 2002) đã làm rung chuyển toàn cầu.