Chương 1: Cơ sở lý luận về cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2: Thực trạng tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tp.HCM Chương 3: Kiến nghị 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CUNG ỨNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Chương này nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại đến doanh nghiệp nhỏ và vừa và các mô hình nghiên cứu về các yếu tố này. Nội dung chương gồm 2 phần chính: (i) Trình bày một số lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; (ii) Khung lý thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về doanh nghiệp nhỏ và vừa, định nghĩa về các doanh nghiệp này khác nhau giữa các định chế tài chính quốc tế, giữa các quốc gia nhưng nhìn chung nó cũng chỉ dựa vào một số tiêu chuẩn định lượng về quy mô doanh nghiệp như doanh thu, tổng tài sản và số lượng lao động. - Theo các định chế tài chính quốc tế: Số lƣợng lao Doanh thu tối Tổng tài sản tối Tên định chế động tối đa đa (USD) đa (USD) World Bank 300 15.000 N/A Development Bank (IADB) African Development Bank 50 N/A N/A Không có định nghĩa chính thức, sử dụng định nghĩa Asian Development Bank riêng lẻ của từng quốc gia. United Nations 200 N/A N/A Development Programme (UNDP) Bảng 1.1: Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa theo các định chế tài chính quốc tế Các định chế tài chính quốc tế lớn như World Bank, IADB, African Development Bank đưa ra giới hạn khác nhau về giá trị số lượng lao động, doanh thu, tổng tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Số lượng lao động theo quan điểm 5 của World Bank lớn gấp 3 lần IADB, 6 lần African Development Bank và 1,5 lần UNDP; doanh thu lớn gấp 3 lần tiêu chuẩn của IADB. Nguồn gốc của sự khác biệt này xuất phát từ sự chênh lệch về quy mô nền kinh tế của các thành viên các định chế tài chính quốc tế nói trên, ví dụ, GDP đầu người của các nền kinh tế thành viên World Bank thấp hơn GDP đầu người của các quốc gia Mỹ La Tinh và Caribbean mà IADB phục vụ. - Theo một số quốc gia trên thế giới: Đơn vị tính: ngƣời Tên quốc gia sắp Tên quốc gia sắp xếp xếp theo GDP đầu Số lao động tối đa theo số lao động của Số lao động tối đa ngƣời giảm dần SMEs giảm dần Na Uy 100 Việt Nam 300 Thụy Sỹ 250 Belarus 250 Úc 200 Moldova 250 Brazil 100 Thụy Sỹ 250 Belarus 250 Úc 200 Thái Lan 200 Moroco 200 Peru 200 Peru 200 Moldova 250 Thái Lan 200 Moroco 200 Bangladesh 100 Ai Cập 50 Brazil 100 Nicaragua 100 Ghana 100 Pakistan 50 Nicaragua 100 Việt Nam 300 Na Uy 100 Bangladesh 100 Ai Cập 50 Ghana 100 Malawi 50 Tanzania 20 Pakistan 50 Malawi 50 Tanzania 20 (Nguồn: Ngân hàng thế giới) Bảng 1.2: Định nghĩa về SMEs của một số quốc gia trên thế giới Nhìn chung định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số quốc gia trên thế giới khác nhau do khác biệt về trình độ phát triển kinh tế. Nếu xem xét chỉ tiêu GDP đầu người đại diện cho sự giàu có của một quốc gia, có thể nhận thấy tại bảng 1.2 phía trên những quốc gia có GDP đầu người cao hay thì tiêu chuẩn số lao động tối đa có giá trị cao hơn.
Tuy nhiên, một số trường hợp lại không tuân theo nguyên 6 tắc này như Việt Nam có GDP đầu người lại thấp hơn Na Uy 33 lần nhưng tiêu chuẩn số lao động tối đa gấp 3 lần Na Uy. - Theo Việt Nam: Hiện tại Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam được xác định theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Số lao Số lao Tổng Khu vực nguồn Số lao động động động nguồn vốn vốn 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 1. Nông, lâm nghiệp trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 2.
Công nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 3. Thương mại và trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến dịch vụ 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ) Bảng 1.3: Tiêu chí phân loại SMEs của Việt Nam Như vậy, có thể thấy khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam đã được Chính phủ làm rõ hơn qua Nghị định 56/2009/NĐ-CP. Nghị định này đã chia doanh nghiệp nhỏ và vừa theo 3 nhóm ngành chính là thương mại và dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông - lâm - nghiệp và thủy sản. Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp cũng được phân loại chi tiết hơn là vừa, nhỏ và siêu nhỏ.
Cách phân loại này nhằm mục đích giúp Chính phủ thực hiện các biện pháp hỗ trợ một cách phù hợp, 7 sát sao hơn. Có thể nói đây là điểm nhấn quan trọng nhất trong việc phân loại theo quy mô đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những đặc trưng rất riêng biệt khi so sánh với doanh nghiệp quy mô lớn, một số đặc trưng cơ bản như sau: - Đặc điểm về vốn: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bắt đầu hoạt động kinh doanh với số vốn không lớn do nhu cầu về nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vốn lưu động thấp. Việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng gặp nhiều khó khăn do thông tin tài chính không minh bạch, thiếu tài sản bảo đảm,…khi có nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất, bổ sung vốn lưu động thường sử dụng vốn tự có hoặc các nguồn tín dụng phi chính thức. - Đặc điểm về quản lý: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ để tiết kiệm chi phí vận hành.
Quyền quyết định mọi vấn đề thường tập trung ở chủ doanh nghiệp, cơ chế quản lý chủ yếu dựa trên sự thuận tiện, phụ thuộc lớn vào năng lực và kinh nghiệm của người chủ doanh nghiệp. - Đặc điểm về lao động: doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng lao động hạn chế, trình độ lao động không cao và không đồng đều. - Đặc điểm về phạm vi hoạt động: các doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, thường chỉ phục vụ những phân khúc khách hàng cụ thể trong địa phương của mình và thường hướng tới các lĩnh vực phục vụ đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, dung lượng thị trường lớn.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò rất quan trọng đối với các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt đối với những nước đang phát triển. Một số vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế: 1.1 Đóng góp phần lớn vào tổng sản phẩm quốc nội và tăng trƣởng kinh tế Doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy có doanh thu, quy mô vốn thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn nhưng đây là thành phần chiếm số đông trong các doanh nghiệp của nền kinh tế vì vậy đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội rất đáng kể.
Đồng thời 8 các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt đối với các nền kinh tế kém phát triển. Các số liệu thực tế cho thấy rằng nhiều nền kinh tế trên thế giới trong giai đoạn tăng trưởng thì thành phần doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có sự gia tăng đáng kể. Đài Loan tăng trưởng nhanh cũng dựa trên nền tảng của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, giai đoạn tăng trưởng vàng của Colombia từ cuối thập niên 1960 đến hết thập niên 1970 đi cùng với sự tăng trưởng nhanh ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp 39% tổng sản phẩm quốc nội, 32% tổng nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế (Hồ Sỹ Hùng, 2007).2 Tạo đƣợc nhiều việc làm, góp phần đào tạo lực lƣợng lao động Vì chiếm số lượng lớn nên doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thu hút một lượng lao động lớn trong nền kinh tế, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa.
Theo báo cáo của Tổ chức Lao Động Quốc Tế năm 2013, doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp hai phần ba số việc làm tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ La Tinh và 80% số việc làm tại các quốc gia có thu nhập thấp. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp khoảng 85% nhu cầu việc làm cho lực lượng lao động (Lê Xuân Bá và cộng sự, 2007).3 Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động hơn Trong quá trình phát triển của mình, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thu hút phần lớn lao động tại nông thôn, lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm. Lực lượng lao động này chủ yếu tập trung vào các ngành phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp góp phần chuyển đổi kinh tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia.