Mở đầu Chương 2:Tổng quan tài liệu Chương 3: Phương pháp nghiên c ứu Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động thị trường tín dụng nông thôn Thái Nguyên Chương 5: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ Chương 6: Kết luận và kiến nghị 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tín dụng 2. Khái niện tín dụng Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy, tín dụng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa. Tín dụng tồn tại song song và cùng phát triển với nền kinh tế hàng hóa và là động lực để phát triển cho nền kinh tế. Nên, khái quát lại tín dụng có thể hiểu: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao d ịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời b ên nhận được phải cam kết trả với một lượng giá trị lớn hơn theo thời hạn đã thoả thuận.”4 Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một b ên là ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân h àng đóng vai trò là người đi huy động vốn để thực hiện hoạt động cho vay.
L ãi suất của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoảng thời gian tồn tại của khoản vay. Khái niệm các tổ chức tín dụng Theo Điều 20, Luật các Tổ chức tín dụng quy định: 4 Lê Văn Tề: Giáo trình Tín dụng Ngân hàng 7 “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ làm dịch vụ Ngân hàng với nội dụng nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh tóan”5 Có khái niệm khác cho rằng: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán6. Tổ chức tín dụng bao gồm hai loại là ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng.2 Đặc trưng của tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ Latinh là Credilitum có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Vì vậy, tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin.
Ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả v à sau một thời gian nhất định có khả năng trả nợ. Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, bên cấp vốn thường xác định rõ thời gian cho vay. Việc xác định thời hạn cho vay phải ph ù hơp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối t ượng vay, thì lúc đó người vay mới có điều kiện trả nợ.
Nếu thời hạn cho vay nhỏ h ơn chu kỳ luân chuyển vốn, khi đến hạn m à chưa có nguồn để trả nợ sẽ gây khó khăn cho người vay. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay d ài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho vi ệc sử dụng vốn không đúng mục đích v à dẫn 5 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (1997) 6 Khái niệm Tín dụng http://vi.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_t%C3%ADn_d%E1%BB%A5ng 8 đến không đủ nguồn để trả nợ, nhưng nếu có nguồn thu nhập khác ngo ài nguồn thu chính thì có thể thu nợ từ nguồn đó. Vì vậy, thời hạn cho vay nên dài hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh. Việc xác định thời hạn cho vay không chỉ dựa v ào chu kỳ luân chuyển vốn của đối t ượng vay mà còn dựa vào tính chất vốn của người cho vay, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn để đảm bảo khả năng thanh kh ỏan của ngân hàng.
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng của tín dụng, vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những ng ười tạm thời dư thừa nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác. Mặt khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ công nhân viên, chi phí hoạt động. Nên người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi theo lãi suất quy định.3 Các nguyên tắc của tín dụng Đặc thù của hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng là hàm chứa rất nhiều rủi ro, vì mọi rủi ro của khách hàng đều liên đới hoặc trực tiếp ảnh hưởng đến ngân hàng.
Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của mình các ngân hàng thường tiến hành phân loại và lựa chọn khách hàng, tức là lựa chọn cho mình những khách hàng tốt nhất, có thể đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng. Sự lựa chọn này dựa trên một số nguyên tắc tín dụng, các nguyên tắc tín dụng này được cụ thể hoá trong các quy định bao gồm: 9 Thứ nhất: khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định. Với nguyên tắc này ngân hàng có thể kế hoạch hoá được các dòng tiền ra vào để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Các khoản tín dụng của ngân h àng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách h àng và các khoản ngân hàng đi vay mượn nên ngân hàng phải trả gốc và lãi theo đúng cam kết.
Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng thực hiện đúng cam kết này. Thứ hai: khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích đ ã thoả thuận với ngân hàng. Đó là những thoả thuận không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động của ngân hàng và ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi đó.
Thực hiện nguyên tắc này ngân hàng quản lý xem các khách hàng của mình có sử dụng vốn đúng với dự án đã được ngân hàng thẩm định là hiệu quả, các hoạt động của khách hàng không được đi ngược lại với các quy định của pháp luật. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo ngân h àng không tài trợ cho các hoạt động phi pháp v à việc tài trợ đó phù hợp với cương lĩnh hoạt động của ngân hàng. Điều này giúp ngân hàng quản lý được nguồn vốn của mình một cách hiệu quả.4 Điều kiện đảm bảo tín dụng Các tổ chức tín dụng chỉ xem xét cho vay khi khách h àng có đủ các điều kiện sau: Thứ nhất: có năng lực pháp luật dân sự, năng lực h ành vi dân sự và chịu trách nhiệm hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Thứ hai: có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. 10 Thứ ba: có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, cụ thể: + Có vốn tự có đối ứng thực hiện dự án.
+ Kinh doanh có hiệu quả, có lãi, trường hợp lỗ thì phải có phương án khả thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Đối với khách hàng vay vốn đáp ứng nhu cầu đời sống thì phải có nguồn thu ổn định để trả nợ ng ân hàng. Thứ tư: có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả. Thứ năm: thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.2 Tổng quan về hộ sản xuất 2.1 Khái niệm hộ sản xuất Theo nghị định 14/CP ngày 02/03/1993 của Chính phủ, hộ sản xuất bao gồm: các hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, công ty cổ phần, các tổ chức hợp tác, các doanh nghiệp, các thành viên của HTX hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành nông- lâm- ngư- diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.
7 Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động và là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, t ự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào những hộ chuyên sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, có tính chất tự sản, tự ti êu, hộ cá thể tư nhân làm kinh tế gia đình; hoặc hộ là những thành viên nhận khoán 7 Nghị định số 14 của Chính Phủ ngày 02/03/1993: http://congbao.vn/vi/html/id9668/cs2/ 11 của các tổ chức kinh tế hợp tác hay các doanh nghiệp; hoặc hộ hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn. V ới những đặc trưng như trên, hộ được nghiên cứu đều là nông hộ và từ đây gọi là hộ.2 Đặc điểm kinh tế hộ Hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất của các hộ biểu hiện ở tr ình độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá.
Về nhân lực: hộ chủ yếu sử dụng nguồn nhân lực tự có. Đây l à nguồn nhân lực ở quy mô gia đình được huy động để tăng gia sản x uất. Một số hộ sản xuất hàng hoá có thuê thêm lao đ ộng vào lúc thời vụ hoặc thuê lao động thường xuyên nếu hộ đó có quy mô sản xuất lớn. Về quy mô sản xuất: hộ sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ với quy mô nhỏ, quy mô ở mức gia đình là chủ yếu.
Do điều kiện về nguồn vốn và khả năng quản lý, sức cạnh tranh trên thị trường nên hộ thường khó mở rộng được quy mô. Tuy nhiên, trong thời gian tới chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều hộ với quy mô lớn h ơn. Về ngành nghề: hộ hoạt động sản xuất kinh doanh tr ên rất nhiều lĩnh vực, với nhiều ngành nghề rất đa dạng và phong phú bao gồm sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thậm chí có hộ c òn tham gia hoạt động sản xuất cả trong lĩnh vực công nghiệp nh ư công nghiệp may mặc, xây dựng cơ bản. Về khả năng quản lý: khả năng quản lý của hộ nhìn chung còn rất nhiều hạn chế.
Khả năng quản lý v à tổ chức sản xuất chủ yếu dựa v ào kinh nghiệm 12 được tích luỹ trong cuộc sống.