Chương 1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 2. Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thời trang của giới trẻ. THỰC TRẠNG NHU CẦU THỜI TRANG THỎA MÃN NHU CẦU THỜI TRANG CỦA GIỚI TRẺ 1.
Nhu cầu thời trang và thỏa mãn nhu cầu thời trang của giới trẻ. Sự đáp ứng nhu cầu thời trang của giới trẻ. Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thời trang CHƯƠNG 3. DỰ BÁO XU HƯỚNG THỜI TRANG CỦA GIỚI TRẺ 1.
Định hướng giá trị trong lĩnh vực thời trang. Tóm lược nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thời trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 3. Xu hướng thời trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm tới KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 24 PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1.
Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. Thời trang Thời trang là trang phục đương thời, là tập hợp những thói quen và thị hiếu phổ biến trong cách mặc, thịnh hành trong môi trường xã hội nhất định, với một khoảng thời gian nhất định. Thời trang luôn gắn liền với thị hiếu thẩm mỹ của một con người, một xã hội. Thị hiếu thẩm mỹ về thời trang có thể được hiểu như một năng lực sẵn có của con người thể hiện sự ưa thích, lựa chọn, khả năng cảm thụ và thực hành cái đẹp thông qua trang phục.
Do vậy, thời trang phản ánh trình độ thẩm mỹ của đối tượng đó, trình độ cao hay thấp, phù hợp với thời đại hay không phù hợp. Thời trang hay hiện tượng nổi của nó - mốt thời trang, do đó, phải được tìm hiểu qua hàng loạt yếu tố nội hàm và ngoại diên liên quan như: truyền thống văn hóa, môi trường thẩm mỹ, điều kiện kinh tế, đặc điểm tâm sinh lý, quá trình giao lưu hội nhập. *Trước hết là những tác động ngoại tại: mang tính xã hội của truyền thống dân tộc, của hệ thống kinh tế văn hóa, của đạo đức, môi trường, tâm sinh lý, giới tính, nghề nghiệp của chủ thể trang phục (cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng). - Yếu tố truyền thống về trang phục nói riêng và văn hóa nói chung là yếu tố quan trọng.
Có thể nói, những yếu tố truyền thống có những tác động, chi phối không nhỏ tới quan điểm phục trang và cách thể hiện trang phục trong đời sống con người. Mốt thời trang là hiện tượng biểu hiện sự phá bỏ và đổi mới trang phục mạnh mẽ, tuy vậy nó không thể thoát ly truyền thống, mà trái lại, phải dựa vững chắc trên cơ sở truyền thống nếu muốn được chấp nhận, định hình trong xã hội. Và để trở thành một phương thức, một biểu trưng, thì trang phục hiện thời phải đáp ứng được tối thiểu hai điều kiện là: 1. phù hợp với nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ hiện đại và 2.
phù hợp với quan niệm, tiêu chuẩn về trang phục của truyền thống dân tộc. - Yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội là cơ sở cốt yếu để đảm bảo cho mốt trang phục cũng như thị hiếu trang phục hình thành, vận động, biến đổi và thích ứng cuộc sống. Chính xác hơn, trang phục phải phù hợp định hướng giá trị của 25 xã hội, nhóm xã hội theo những tiêu chuẩn chính trị, kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ, chuẩn mực xã hội. Sự ảnh hưởng của truyền thống trang phục và dư luận xã hội là một định hướng khá rõ ràng về phương thức trang phục có tính xã hội.
- Yếu tố văn hóa và một số yếu tố khác của chủ thể biểu hiện trang phục (trình độ văn hóa, hình thể, tâm sinh lý, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi.) của cá nhân hay nhóm xã hội là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến trang phục. Trong thực tiễn đa dạng, phong phú của chủ thể trang phục cũng như kiểu dáng trang phục, người ta có thể nhận ra được sự hợp lý, sang trọng, mức độ phù hợp của trang phục với xã hội và “đọc” được, qua trang phục, trình độ văn hóa của cá nhân, thậm chí nhóm xã hội sử dụng trang phục đó. - Môi trường mà trang phục, mốt thời trang được đưa ra thực hiện là một yếu tố không kém phần quan trọng, bởi mỗi môi trường phù hợp với một kiểu trang phục. Trong thực tế, cần chú trọng tạo ra những môi trường đại diện, đặc trưng, tiêu biểu, tạo không gian xã hội cho trang phục được biểu hiện, sáng tạo và lan truyền, ổn định.
Đó có thể là: môi trường các tụ điểm văn hóa, môi trường nhóm bạn, môi trường giáo dục, công sở, thậm chí cả gia đình. Các hình thức xã hội hóa như biểu diễn, thi, triển lãm. trang phục cũng là những phương thức tốt để thể hiện, đánh giá, lựa chọn trang phục. *Trang phục chịu sự chi phối của những tác động nội tại như: tính thời đoạn, tính chu kỳ, tính truyền lan.
- Tính chu kỳ, thời đoạn là một yếu tố đặc trưng của trang phục, đặc biệt của mốt trang phục. Qua sự khởi phát, biểu hiện, kết thúc của yếu tố này, có thể nhận biết được khả năng phát triển tuyến tính, sự ổn định và hòa nhập với xã hội của một loại trang phục, biểu hiện thẩm mỹ xã hội và thị hiếu cá nhân cũng như có thể tác động, điều khiển, định hướng chúng. Tính chu kỳ, thời đoạn của trang phục tạo tiền đề để xác định quan điểm về trang phục hay dự báo xu hướng và khả năng vận động của trang phục. - Tính truyền lan là đặc trưng cơ bản khác cần chú trọng trong sáng tạo và thể hiện trang phục.
Là một hiện tượng xã hội, trang phục không chỉ tồn tại ở từng cá nhân mà còn cơ bản trong nhóm xã hội, cộng đồng, dân tộc. Tính truyền lan bộc lộ qua nhiều khía cạnh: phương thức sáng tạo trang phục, chủ thể thực hiện và phổ biến trang phục, môi trường sáng tạo và thể hiện trang phục, bản thân kiểu dáng trang phục. Hai chiều của tính truyền lan (từ cá nhân ra xã hội và 26 từ xã hội đến các cá nhân khác) được thể hiện thông qua cơ chế lựa chọn của cá nhân, của nhóm xã hội và qua các thiết chế và hoạt động xã hội khác. Như vậy, với tư cách là một hiện tượng xã hội, trang phục được nhìn nhận trong mối quan hệ của nhiều yếu tố khác nhau: - Các yếu tố ngoại tại: Tri thức văn hóa, hệ giá trị xã hội về chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế; tiêu chí nhóm xã hội trong sáng tạo, đánh giá và hưởng thụ; thị hiếu thẩm mỹ, sở thích, hứng thú cá nhân.
- Các yếu tố nội tại: tính chu kỳ, tính truyền lan, đặc trưng, kiểu dáng, chất liệu. phù hợp với chuẩn mực xã hội. Cả hai yếu tố này kết hợp chặt chẽ, chi phối quá trình phát triển trang phục từ truyền thống đến hiện đại, từ cá nhân ra xã hội, từ dân tộc tới quốc tế. Tuy nhiên, về trang phục hay hiện tượng mốt thời trang, có thể nói thẩm mỹ dân tộc, quan điểm của nhóm xã hội về cái đẹp; thị hiếu, sở thích cá nhân là yếu tố tác động trực tiếp (Nguyễn Hồng Hà, 2004).
Xu hướng Định nghĩa xu hướng: - Xu hướng là sự hướng tới một mục tiêu, một đối tượng nào đó. - Xu hướng là hệ thống động cơ thúc đẩy, quy định tính lựa chọn của các thái độ và tính tích cực của con người. Những mặt biểu hiện của xu hướng bao gồm: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin, thế giới quan. Trong đó, nhu cầu là mặt biểu hiện chủ yếu trong xu hướng nói chung và xu hướng thời trang của giới trẻ.
Do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào các vấn đề liên quan đến nhu cầu thời trang của giới trẻ. Các quan niệm về nhu cầu.G Côvaliép quan niệm: Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và tồn tại. Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn các ý nghĩ, các rung cảm và ý chí của con người, nó quy định hoạt động của giai cấp hoặc của tập thể. Theo Leoncheif: Khi đề cập đến nhu cầu ông đã xác định hai cấp độ: Thứ nhất, là trạng thái tâm lý bên trong tạm gọi là nhu cầu chưa có đối tượng, nó là điều kiện bắt buộc của hoạt động.
Nó thể hiện trạng thái thiếu thốn 27 của cơ thể. Nhưng do chưa có đối tượng để thỏa mãn nên ở cấp độ này nhu cầu chỉ có khả năng phát động sức mạnh của các chức năng tâm lý và tạo ra sự kích thích chung. Cấp độ thứ hai cao hơn, gọi là cấp độ nhu cầu có đối tượng. Ở cấp độ này, nhu cầu có khả năng kích thích, hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động theo một hướng rõ ràng: hướng đến đối tượng thỏa mãn nhu cầu.
Như vậy, nhu cầu gắn liền với đối tượng của nó hay nhu cầu phải được “vật chất hóa”, “đối tượng hóa” vào trong thực thể khách quan, ở bên ngoài chủ thể, hướng dẫn và kích thích chủ thể về phía đó. Sự phát triển của nhu cầu là sự phát triển nội dung đối tượng của nó (Nguyễn Ngọc Bích, 2000). Khi phân tích về mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động, ông cho rằng có hai quan niệm được thể hiện như sau: + Quan niệm thứ nhất nói lên tư tưởng cho rằng xuất phát điểm là những nhu cầu và vì thế toàn bộ quá trình này thể hiện thành một chu kỳ: nhu cầu - hoạt động - nhu cầu. Đây là quan niệm của những người theo chủ nghĩa duy vật về nhu cầu trước khi xuất hiện chủ nghĩa Mác.
+ Quan niệm thứ hai, trái ngược lại là một sơ đồ theo chu kỳ: hoạt động - nhu cầu - hoạt động. Quan niệm này đáp ứng được quan điểm Macxits về nhu cầu. Luận điểm này cho rằng nhu cầu của con người đều được sản sinh ra, nó có ý nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, nó lại cực kỳ quan trọng đối với tâm lý học bởi vì không có một “động lực” nào tồn tại trước bản thân hoạt động lại có thể đóng vai trò một quan niệm xuất phát, có khả năng dùng làm cơ sở đầy đủ cho một lý thuyết khoa học về nhân cách con người (Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc, 2004).