chương 1, tác giả đưa ra một cái nhìn tổng quan chi tiết về đề tài nghiên cứu bằng cách tập trung vào tính cấp thiết của đề tài và mục tiêu nghiên cứu. Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, đối tượng nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu được giới thiệu. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày bố cục tổng quan của nghiên cứu. Chương 2 sẽ tập trung vào cơ sở lý thuyết và nền tảng lý thuyết về rủi ro thanh khoản cùng các nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài.
17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO THANH KHOẢN 2. Khái niệm rủi ro thanh khoản RRTK xảy ra khi ngân hàng không có đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên. Điều này có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng không thể cung cấp đủ tiền mặt cho nhu cầu thanh toán ngay lập tức hoặc cung cấp đủ tiền mặt nhưng với chi phí cao.
RRTK đại diện cho một loại rủi ro mà ngân hàng đối mặt khi không thể chuyển đổi tài sản thành tiền mặt kịp thời hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Trạng thái thâm hụt thanh khoản của ngân hàng thể hiện mức độ nghiêm trọng của RRTK. Khi ngân hàng gặp tình trạng thâm hụt thanh khoản, nghĩa là nguồn cung tiền mặt không đủ để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình, rủi ro RRTK trở nên rất cao. Theo Duttweiler (2011), tính thanh khoản kém xảy ra khi nghĩa vụ thanh toán không thể được đáp ứng.
Khi thiếu thanh khoản kéo dài, rủi ro thanh khoản (RRTK) có thể xảy ra. Từ đó, khóa luận sẽ dựa theo quan điểm của Duttweiler (2011) để làm cơ sở cho bài nghiên cứu của mình, rủi ro thanh khoản và mô hình nghiên cứu dự định dựa trên quan điểm của tác giả trên. Đo lường rủi ro thanh khoản 2. Các hệ số thanh khoản Trong phương pháp đo lường rủi ro, hệ số thanh khoản được Pavla Klepková Vodová (2013) dùng để ước lượng rủi ro thanh khoản và hệ số thanh khoản được tính dựa trên các chỉ số tài chính.
Để đánh giá chất lượng dự trữ thanh khoản của ngânhàng, một số nghiên cứu thực nghiệm đã tập trung vào các tỷ số thanh khoản sau: 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝐿1 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 18 Tỷ số L1 cho thấy cái nhìn tổng quan về khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại, thể hiện khả năng ngân hàng có thể đáp ứng nhanh chóng hoặc hiệu quả nhu cầu rút tiền hoặc thanh toán từ phía khách hàng. 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝐿2 = 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑉ố𝑛 ℎ𝑢𝑦 độ𝑛𝑔 ℎ𝑢𝑦 độ𝑛𝑔 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Tỷ số L2 cho thấy, theo Vodová, Pavla (2013), tỷ lệ thanh khoản L2 cũng sử dụng chỉ tiêu về tài sản có tính thanh khoản. Tuy nhiên, tỷ lệ này tập trung nhiều hơn vào sự nhạy cảm của ngân hàng đối với các loại nguồn vốn huy động (bao gồm tiền gửi của hộ gia đình, doanh nghiệp, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác cũng như nguồn vốn từ các công cụ nợ phát hành bởi ngân hàng). 𝐾ℎ𝑜ả𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝐿3 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Theo Vodová, Pavla (2013), tỷ lệ này đo lường tỷ lệ cho vay trong tổng tài sản.
Nó cho biết phần trăm của tài sản của ngân hàng đang được tính trong các khoản vay không thanh toán nhanh. Do đó, tỷ lệ càng cao thì ngân hàng càng thiếu thanh khoản. 𝐾ℎ𝑜ả𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝐿4 = 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑁𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Tỷ số L4 cho thấy, dựa theo các nghiên cứu trước như nghiên cứu về rủi ro thanh khoản của Vodová, Pavla (2013), tỷ lệ càng cao thì ngân hàng càng thiếu thanh khoản. Giá trị thấp của tỷ lệ này có nghĩa là các khoản vay do ngân hàng cung cấp được tài trợ bằng tiền gửi và nguồn vốn ngắn hạn.
Tuy nhiên, nhược điểm là các chỉ tiêu có thể không bao quát được rủi ro thanh khoản nếu không tính toán sự tác động của các yếu tố vĩ mô hoặc yếu tố không quan sát được. 1: Công thức hệ số thanh khoản Tiêu chí Cách đo lường Ý nghĩa Đo lường khả năng chuyển đổi các tài Tài sản thanh Hệ số thanh sản ngắn hạn thành tiền hoặc các khoản khoản/ Tổng tài khoản L1 tương đương tiền nhằm đáp ứng các nhu sản cầu thanh toán ngắn hạn. Đo lường khả năng chuyển đổi các tài Tài sản thanh sản ngắn hạn thành tiền mặt hoặc tương Hệ số thanh khoản/ (Tiền gửi đương tiền mặt so với nguồn vốn ngắn khoản L2 + Vốn huy động hạn mà ngân hàng sử dụng để cung cấp ngắn hạn) vốn. Đo lường mức độ sử dụng tài sản của Hệ số thanh Dư nợ cho vay/ ngân hàng để cung cấp vốn cho các hoạt khoản L3 Tổng tài sản động tín dụng.
Dư nợ cho vay/ Đo lường mức độ sử dụng tài sản để cấp Hệ số thanh (Tiền gửi + Vốn vốn cho các hoạt động tín dụng so với khoản L4 huy động ngắn nguồn vốn ngắn hạn mà ngân hàng sử hạn) dụng để cung cấp vốn. (Dư nợ cho vay - Đo lường mức độ ngân hàng sử dụng các Khe hở tài Tiền gửi khách nguồn tài trợ của cổ đông cho các hoạt trợ (FGAP) hàng)/ Tổng tài động sản Nguồn: Tổng hợp của tác giả 2. Khe hở tài trợ Trong việc đo lường rủi ro thanh khoản, có một số phương pháp khác nhau, tuy nhiên trong bài nghiên cứu này, tác giả đã chọn phương pháp khe hở tài trợ làm phương pháp chính trong phân tích. Khe hở thanh khoản được định nghĩa là chênh lệch giữa số dư bình quân của các khoản cho vay và số dư bình quân của vốn huy động.
Đây là một chỉ số quan trọng để đo lường khả năng thanh toán và khả năng 20 chịu rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Khi khe hở thanh khoản tăng lên, tức là số dư các khoản cho vay vượt quá số dư vốn huy động, ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro thanh khoản cao hơn và khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán ngay lập tức. 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 − 𝑇ổ𝑛𝑔 ℎ𝑢𝑦 độ𝑛𝑔 𝐾ℎ𝑒 ℎở 𝑡à𝑖 𝑡𝑟ợ = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Tỷ lệ này thể hiện cho khả năng cung cấp thanh khoản của ngân hàng. Nếu tỷ lệ này cao, điều này có thể đồng nghĩa với việc ngân hàng đang sử dụng một lượng lớn tiền gửi của khách hàng để đáp ứng cho các khoản vay, độ chênh lệch lớn giữa dư nợ cho vay và tiền gửi khách hàng.
Khi đó ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn bổ sung từ các nguồn khác nhau như vay mượn từ thị trường tài chính hoặc từ nguồn vốn cố định, dẫn đến gia tăng RRTK. Ý nghĩa của quản trị rủi ro thanh khoản Trước hết, quản trị rủi ro thanh khoản đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo khả năng thanh toán và duy trì liên tục hoạt động kinh doanh của NHTM. Như Bessis (2015) đã chỉ ra, các biện pháp quản lý rủi ro này giúp NHTM luôn duy trì đủ nguồn lực để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanh trọng yếu khác. Bên cạnh đó, quản trị rủi ro thanh khoản cũng giúp NHTM giảm thiểu đáng kể khả năng mất thanh khoản, một trong những rủi ro nghiêm trọng nhất có thể đe dọa sự tồn vong của ngân hàng.
Theo Crouhy et al. (2014), việc nhận diện, đo lường và kiểm soát các nguồn rủi ro thanh khoản giúp NHTM chủ động phòng ngừa và ứng phó kịp thời với những biến động bất lợi về dòng tiền. Quan trọng hơn, quản trị rủi ro thanh khoản còn giúp NHTM cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động. Như Matz & Neu (2007) đã chỉ ra, thông qua các biện pháp quản lý rủi ro này, NHTM có thể tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn và đầu tư, từ đó nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên và cải thiện kết quả kinh doanh.
Điều này không chỉ tăng cường sức cạnh tranh của NHTM trong thị trường, mà còn góp phần phát triển bền vững trong dài hạn. Cuối cùng, quản trị rủi ro thanh khoản còn giúp NHTM đáp ứng các yêu cầu quản lý nhà nước. Như Crouhy et al. (2014) đã nhấn mạnh, các NHTM phải tuân thủ các quy định về quản trị rủi ro thanh khoản do cơ quan quản lý ban hành.
Việc thực 21 hiện tốt các yêu cầu này không chỉ giúp NHTM tránh khỏi các biện pháp trừng phạt, mà còn góp phần củng cố uy tín và vị thế của ngân hàng trong hệ thống tài chính quốc gia. Lý thuyết nền có liên quan 2. Lý thuyết khả năng thay đổi (The Shiftability Theory): Lý thuyết khả năng thay đổi, đề xuất bởi Moulton (1918) và đã trở thành một trong những lý thuyết tiên phong trong lĩnh vực này, đặt ra quan điểm rằng "khả năng thanh khoản có thể thay đổi". Theo lý thuyết này, ngân hàng có thể tối ưu hóa khả năng tự bảo hiểm RRTK (Reserve Requirements to Total Assets) bằng cách duy trì một tỷ trọng cao về tài sản có khả năng thanh khoản cao.
Ngoài ra, nghiên cứu của Toby (2006) tập trung vào nguồn gốc của rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng Mỹ dựa trên lý thuyết khả năng thay đổi ("shiftability theory"), và giải thích rằng tính thanh khoản của một ngân hàng phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi các tài sản ngắn hạn (công cụ ngắn hạn trên thị trường mở) với một mức giá có thể dự đoán được. Lý thuyết này cho rằng các tài sản mà ngân hàng nắm giữ có thể dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường, và ngân hàng sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản nếu có tài sản sẵn sàng để bán. Thêm vào đó, theo sự tiến bộ của lí thuyết khả năng thay đổi thực hiện bởi Toby (2006), tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hơn có thể áp đảo số tiền gửi và dẫn đến việc giảm đi tính thanh khoản (Gorton và Winton, 2014). Hiệu ứng "cấu trúc áp đảo số tiền gửi" trong trường hợp vốn chủ sở hữu cao hơn thường làm giảm nhẹ sự sụp đổ tài chính bởi vì ngân hàng có lợi thế trong đàm phán, đa dạng hóa nguồn đầu tư và tham gia vào các hoạt động đầu tư mạo hiểm, điều này gây trở ngại cho các cam kết của ngân hàng đối với người gửi tiền.
Do đó, vốn lớn hơn thường làm giảm tính thanh khoản hoặc tăng rủi ro thanh khoản. Vì vậy, dưới yếu tố về góc độ tài sản, quy mô tài sản của ngân hàng là rất quan trọng, tăng tỷ trọng về tài sản có thể làm gia tăng khả năng thanh khoản của ngân hàng, dễ dàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần.