Chương 1: Giới thiệu: Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và kết cấu của luận văn nghiên cứu. Chương 2: Lược khảo cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan: Nội dung chương này trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước của tác giả trong và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng, làm cơ sở tham khảo cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Mục đı́gch của chương nhằm mô tả mô hình nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết và giải thích các biến trong mô hình. Ngoài ra, chương này còn đề cập đến cách thu thập, xử lý các số liệu dùng trong nghiên cứu, các bước thực hiện hồi quy và các kiểm định cần thiết cho mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trong chương này tác giả trình bày các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan giữa các biến và phân tích hồi quy đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tı́cg h đồng thời đưa ra một số đề xuất, kiến nghị đối với các đối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu. Chương 5 cũng nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. LƯỢC KHẢO CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 2.
Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 2. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 2. Khái niệm Ngày nay, các ngân hàng thương mại đóng vai trò cơ bản trong nền kinh tế, là một trung gian tài chính trong việc luân chuyển vốn giữa nơi thừa vốn và nơi thiếu vốn. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, các ngân hàng thương mại sử dụng khoản vốn huy động đó để cấp tín dụng hoặc đầu tư vào các quỹ bằng các phương tiện khác.
Ngân hàng trả lãi cho người gửi tiền đồng thời ấn định mức lãi suất cho các đối tượng đi vay. Thu nhập lãi thuần là thu nhập từ các khoản lãi sau khi đã trừ đi chi phí lãi phải trả. Do đó, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin) đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất (Trương Quang Thông, 2012, trang 63). NIM được xác định bằng chênh lệch giữa thu nhập từ lãi mà ngân hàng nhận được và chi phí lãi mà ngân hàng phải trả, chia cho tài sản Có sinh lời bình quân của ngân hàng - công thức như sau: Thu nhập lãi – Chi phí lãi NIM = Tài sản Có sinh lời Trong đó: - Thu nhập lãi là thu nhập từ các khoản cho vay khách hàng, cho vay các TCTD, chứng khoán đầu tư, tiền gửi tại NHNN và các TCTD, các khoản thu khác từ hoạt động tín dụng.
8 - Chi phí lãi là chi phí trả lãi mà ngân hàng phải trả cho tiền gửi, tiền vay và các khoản chi phí tương tự. - Tài sản Có sinh lời là tài sản Có của ngân hàng tạo ra thu nhập lãi trong một khoảng thời gian cụ thể bao gồm: Cho vay khách hàng và các TCTD, chứng khoán đầu tư, tiền gửi tại NHNN Việt Nam và các TCTD khác. Tài sản Có sinh lời không bao gồm tiền – kim loại quý tại quỹ và tài sản cố định. Ý nghĩa Trên thế giới, các ngân hàng hoạt động hiệu quả thường có khả năng phòng vệ tốt hơn trước các cú sốc kinh tế, đóng góp vào sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế; ngược lại ngân hàng hoạt động hiệu quả kém sẽ rất dễ dẫn đến thất bại.
Nguyên nhân chủ yếu từ cho vay lãi suất cao, khủng hoảng thanh khoản, thiếu vốn, cầu thấp, danh mục cho vay không đa dạng. Vì vậy, không thể phủ nhận vai trò định hướng giúp giám sát tạo ra môi trường mở, đa dạng hơn các dịch vụ tài chính, thay đổi cơ cấu công nghệ, thị trường, tạo ra sức ép cạnh tranh lên các ngân hàng, buộc ra đời những tiêu chuẩn điển hình để đo lường phần chênh lệch lãi thuần của ngân hàng. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giúp nhà quản trị thấy được khả năng sinh lời và dự báo khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Qua đó có thể điều chỉnh, kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản có sinh lời, tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp, đồng thời có chính sách tăng giảm lãi suất một cách hợp lý (Nguyễn Đăng Dờn, 2009, trang 168).
Chúng chỉ ra hiệu quả trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, lãi chiết khấu, phí cho thuê tài chính, phí bảo lãnh,…) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, khoản vay trên thị trường tiền tệ,…), phản ánh hiệu quả tạo lợi nhuận của các tài sản có sinh lời của ngân hàng. Xét về góc độ kinh tế, đối với hầu hết các ngân hàng, thu nhập lãi đại diện cho một phần quan trọng trong thu nhập hoạt động. Hệ số NIM của ngành ngân hàng càng cao thì ngân hàng hoạt động tốt trong quản trị tài sản Nợ - Có. Ngược lại, 9 NIM có xu hướng thấp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại.
Theo như đánh giá của S&P thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. Xét về góc độ lợi ích xã hội, NIM ở mức nào là tốt, ở mức nào là xấu vẫn còn là vấn đề cần phải làm rõ (Doliente, 2005). Theo kết quả nghiên cứu của Claeys và Vennet năm 2008, ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi có tỷ lệ NIM cao được đánh giá là kém hiệu quả và do thị trường không cạnh tranh gây ra. Trong trường hợp này, NIM cao làm cho lãi suất cho vay cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp về nhu cầu vốn, trong khi lãi suất huy động lại thấp nên khó thu hút được tiền gửi.
Một NIM thấp có thể cho thấy sự cạnh tranh, hoạt động hiệu quả trong hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, nếu một môi trường kinh tế mà các ngân hàng yếu kém được phép hoạt động và thực hiện chiến lược cấp tín dụng với lãi suất cho vay thấp để tăng thị phần thì tỷ lệ NIM thấp chưa thể khẳng định là tốt (Doliente, 2005), (Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự, 2014, trang 21-22). Tóm lại, xét về góc độ kinh tế, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao thì luôn được coi là tốt. Về góc độ lợi ích xã hội, NIM cao hay thấp được xem là tốt thì chỉ mang tính chất tương đối.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thấp chứng tỏ hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả nhưng lại giúp các doanh nghiệp dễ dàng trong việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng. Ngược lại, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao cho thấy các ngân hàng đang thu được nhiều lợi nhuận, nhưng lại là hàng rào ngăn cản trong việc lưu thông tín dụng, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Ở đây tồn tại xung đột lợi ích giữa người làm chính sách có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích xã hội, và hệ thống ngân hàng thương mại có mục tiêu là tối đa lợi nhuận. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 2.
Các nhân tố bên trong Các nhân tố bên trong ngân hàng bao gồm: Tỷ lệ dư nợ trên huy động vốn, Quy mô tín dụng cá nhân, Quy mô huy động vốn không kỳ hạn, Quy mô vốn chủ sở 10 hữu, Tình trạng niêm yết của ngân hàng, Rủi ro tín dụng, Dự trữ ngân hàng, Chi phí hoạt động. Tỷ lệ tổng dư nợ trên huy động vốn (LDR): tỷ lệ này cho biết một đồng tiền cho vay ra được tài trợ bằng bao nhiêu đồng tiền gửi vào hay tỷ trọng sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay có tác động đến NIM của các ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng cho vay nhiều hơn, ngoài dự trữ bắt buộc theo luật định thì ngân hàng sử dụng thêm phần dự trữ vượt mức để tài trợ cho nhu cầu tín dụng của khách hàng, từ đó ngân hàng có thể tìm kiếm thêm lợi nhuận gia tăng thu nhập lãi thuần, đồng thời khi đó ngân hàng cũng phải thận trọng cân nhắc khi rủi ro thanh khoản gia tăng. Ngoài ra, khi tỷ lệ này tăng khiến cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng tăng độ rủi ro, do đó các ngân hàng cũng sẽ yêu cầu một mức NIM cao hơn để bù đắp rủi ro.
Quy mô tín dụng cá nhân (SIC): cho biết tỷ trọng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. Theo quy định của Bộ luật dân sư 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017, lãi suất cho vay khách hàng cá nhân là lãi suất thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng, tối đa không vượt quá 20%/năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay các doanh nghiệp và định chế tài chính phần lớn bị chi phối bởi các quy định chính sách của Chính phủ và thị trường liên ngân hàng, sự tự do hóa lãi suất của các ngân hàng thương mại bị hạn chế. Cụ thể theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016, trường hợp khách hàng đủ điều kiện theo quy định và thuộc lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao), có nhu cầu vay vốn ngắn hạn bằng VND thì các ngân hàng thương mại phải áp dụng lãi suất cho vay đối với khách hàng này tối đa là 6,5%/năm.
Do đó, theo lý thuyết nhóm khách hàng cá nhân sẽ mang lại biên lợi nhuận cao hơn nhóm khách hàng tổ chức và định chế tài chính. Vì vậy, duy trì tỷ trọng cao dư nợ vay khách hàng cá nhân sẽ tác động tích cực đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng. Quy mô huy động vốn không kỳ hạn (SD): phản ánh tỷ trọng nguồn vốn huy động không kỳ hạn trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng.