chương 1 Chương này nêu rõ những nội dung bao gồm mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp và tính cấp thiết, cấu trúc của đề tài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Phan Thị Thu Hà (2009), tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi là tín dụng ngân hàng). Theo Bùi Diệu Anh (2020), tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Hồ Diệu (2001), tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Dù có nhiều quan điểm về khái niệm thương hiệu, tuy nhiên điểm chung có thể nhận thấy ở các quan điểm đó là; tín dụng thể hiện mối quan hệ giữa người vay và người đi vay. Giá trị của tín dụng được gia tăng nhờ vào lợi tức mà tín dụng mang lại.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Theo Bùi Diệu Anh (2020), tín dụng ngân hàng có các đặc điểm như sau: Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký. Xem xét về khía cạnh hình thái giá trị tín dụng, có thể nhận thấy trong các loại hình tín dụng khác, tài sản giao dịch thường là tiền tệ (trong quan hệ tín dụng giữa nhà nước và nhân dân), hoặc dưới dạng hàng hóa (trong tín dụng thương mại). Hiện nay, cấp tín dụng bằng tài sản thực là một trong những loại hình tín dụng đang có xu hướng phổ biến trong nền kinh tế.
Các doanh nghiệp bán lẻ có thẻ cấp tín dụng bằng tài sản thực cho người tiêu dùng thông qua việc bán hàng trả góp (tài sản trả góp có thể là căn hộ chung cư, xe cộ, đồ dùng gia đình. Cùng với sự lớn mạnh về quy mô hoạt động, uy tín của các ngân hàng trong nền kinh tế cũng gia tăng, từ đó xuất hiện một loại hình tín dụng ngân hàng độc đáo với tên gọi là tín dụng chữ ký (Signature Credit). Đây là loại hình tín dụng cam kết thanh toán có điều kiện mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình. Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn.
Rủi ro tind dụng sẽ xảy ra một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và / hoặc thiện chí trả nợ 7 không được hình thành đầy đủ. Trong 2 yếu tố đó thiện chí trả nợ là yếu tố vô hình (không thể cân đo đong đếm được chúng) do vậy rủi ro tín dụng là yếu tố xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng, ngân hàng không thể triệt tiêu, loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng. Mặt khác trong quá trình khách hàng sử dụng tín dụng, có rất nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng lẫn khách hàng, làm cho khả năng trả nợ thay đổi, vì vậy độ rủi ro tiềm ẩn trong quan hệ tín dụng là khá cao, các ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu hạn chế nó mà thôi. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng.
Sự khác viêth giữa tín dụng và những giao dịch khác chính là ở sự hoàn trả. Tuy nhiên trong tín dụng ngân hàng thì sự hoàn trả cực kì quan trọng. Để đảm bảo hoàn trả gốc và lãi, trong nghiệp vụ tín dụng phải cân nhắc 2 yếu tố: xác định thời hạn và ký hạn tín dụng phải hợp lý và chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận. Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện.
Các chứng từ được hình thành trong quan hệ tín dụng đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng ngân hàng.3 Phân loại tín dụng ngân hàng 2.1 Phân loại theo mục đích sử dụng tín dụng: Căn cứ theo mục đích sử dụng có thể phân loại tín dụng ngân hàng thành 3 nhóm. Theo mục đích sử dụng, có thể phân biệt thành các loại sau: Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: bao gồm tất cả các khoản tín dụng tài trợ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Chủ thể vay có thể là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các hộ kinh doanh cá thể.
với nhiều mục đích đa dạng, chẳng hạn vay bổ sung vốn lưu động theo thời vụ, vay đầu tư cải tạo, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị. Tín dụng tiêu dụng loại hình này đáp ứng nhu cầu mua sắm nhà cửa, xe cộ, chi tiêu, sinh hoạt cá nhân/ hộ gia đình. Tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác: những khoản tín dụng này thường được tổ chức tín dụng/ ngân hàng lớn tài trợ cho các tổ chức tín dụng nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức này.2 Phân loại theo phương thức cấp tín dụng Các ngân hàng có thể thực hiện cấp tín dụng trực tiếp và gián tiếp căn cứ vào bộ máy tổ chức cũng như khả năng kiểm soát rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Theo phương thức tổ chức cấp tín dụng, có thể phân biệt thành hai loại như sau: Tín dụng trực tiếp: bao gồm những khoản tín dụng được hình thành trực tiếp trong quan hệ giữa ngân hàng và người vay.
Ngân hàng sẽ trực tiếp tìm hiểu phân tích về người vay trước khi chấp nhận cấp tín dụng, hai bên sẽ kí thỏa thuận và ký kết hợp đồng tín dụng. Cấp tín dụng trực tiếp sẽ giúp NHTM thuận lợi hơn trong việc giới thiệu, tư ván bán chéo các sản phẩm/ dịch vụ khác cho khách hàng. Tín dụng gián tiếp: bao gồm các khoản tín dụng được ngân hàng thực hiện trên cơ sở mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán trên các phiếu bán hàng, thương phiếu,. từ người sở hữu chúng.
Các hình thức chiết khấu, bao thanh toán, tài trợ bán trả góp đều thuộc dạng này 2.3 Phân loại theo tính chất đảm bảo/mức độ tín nhiệm của người vay Trong giao dịch tín dụng, rủi ro tín dụng là yếu tố không thể triệt tiêu. Với lượng khách hàng đông đảo, phong phú và đa dạng về tầng lớp, mức độ quan hệ, thì việc kiểm soát rủi ro tín dụng của MHTM là không hề đơn giản. Vì vậy các NHTM thường giám sát và quản lý cho phù hợp với mức độ tín nhiệm của khách hàng. Theo tiêu chí này, tín dụng ngân hàng được phân thành hai loại: Tín dụng có đảm bảo là tín dụng được cấp dựa trên cơ sở của các biên pháp đảm bảo được pháp luật quy định trong bộ Luật dân sự.
Hầu hết các khách hàng vay mới, ít quan hệ đều phải áp dụng đảm bảo mới được ngân hàng cấp tín dụng. Mục đích này nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được. Tín dụng không có đảm bảo được thực hiện dưa trên uy tín của chính người nhận tín dụng, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án/ dự án vay, không cần phải có biện pháp đảm bảo tiền vay đi kèm.4 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng Theo Luật các tổ chức tín dụng tại Việt Nam thì được phân loại như sau: 9 Cho vay là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận. Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thue tài sản, theo đó bên cho thuê mua tài sản theo sự lựa chọn của bên thuê và ký hợp đồng cho bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định.4 Rủi ro tín dụng Theo ủy ban Basel, rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc là bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. Tuy nhiên trong giới hạn phạm vi nghiên cứu thỉ rủi ro tín dụng được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, khi khách hàng (bên nhận tín dụng) vi phạm cam kết: không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả gốc và lãi cho ngân hàng cấp tín dụng.
Theo Phan Thị Thu Hà (2009), rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: Những nguyên nhân bất khả kháng tác động đến người vay, làm họ mất khả năng thanh toán cho ngân hàng. Ví dụ: thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan.) vượt quá tầm kiểm soát của người đi vay 10 Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay. Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng,.
là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao. Để đạt được mục đích của mình.