Chương 1 của bài nghiên cứu tập trung vào việc giới thiệu tổng quan của bài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu mà tác giả đề ra. Theo đó, xác định các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài cùng với kết cấu dự kiến của luận văn. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC Chương 2 của bài nghiên cứu sẽ đưa ra những khái niệm liên quan đến RRTD. Đồng thời trích dẫn các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước làm tư liệu tham khảo để phục vụ dữ liệu cho bài nghiên cứu từ đó tác giả có thể xác định phương pháo nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp.
5 Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 3 của bài nghiên cứu sẽ trình bày về phương pháp và mô hình nghiên cứu. Đồng thời đưa ra cách thức đo lường giữa các biến trong mô hình. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 4 của bài nghiên cứu sẽ trình bày các phân tích, thống kê mô tả và kết quả hồi quy. Sau đó thảo luận về kết quả và đưa ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Chương 5 của bài nghiên cứu sẽ đưa ra kết luận và đóng góp các khuyến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý, các NHTM; Góp phần nâng cao công tác quản lý phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng Baesens & Gestel (2009) định nghĩa rủi ro tín dụng (RRTD) là rủi ro mà người đi vay không thanh toán được và không hành động theo nghĩa vụ trả nợ của họ.
Singh (2013) cho rằng một thuật ngữ khác cho RRTD là rủi ro vỡ nợ và định nghĩa nó vì rủi ro thua lỗ của ngân hàng phát sinh từ một đối tác không thực hiện thanh toán theo quy định. Cùng với rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, đây là một trong ba loại rủi ro chính mà các ngân hàng phải đối mặt và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản có rủi ro (RWA) tại hầu hết các ngân hàng. Theo Saeed MS & Zahid N (2016) định nghĩa RRTD là khả năng một số tài sản của ngân hàng, đặc biệt là các khoản vay sẽ giảm giá trị và có thể trở nên vô giá trị; Rủi ro phát sinh từ khả năng người đi vay hoặc đối tác không thực hiện nghĩa vụ. Bởi vì các ngân hàng nắm giữ rất ít vốn chủ sở hữu so với tổng vốn tài sản của họ, chỉ một tỷ lệ nhỏ trong tổng số tỷ lệ nợ xấu có thể đẩy các ngân hàng đến bờ vực phá sản.
Đồng thời các nhà nghiên cứu trên cũng cho rằng giá trị tín dụng được định hình là các chỉ số chính về sức khỏe tài chính và phúc lợi sức khỏe của các ngân hàng vì vậy đây có thể được coi là rủi ro lớn nhất ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng theo sự xác nhận của Boffey & Robson (1995). Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 14/2023/TT-NHNN, RRTD là rủi ro người đi vay không trả được nợ hoặc nghĩa vụ tài chính liên quan. RRTD còn được định nghĩa là khả năng vay vốn của khách hàng nợ nhưng không thực hiện đúng cam kết. Tóm lại, RRTD là nguy cơ liên quan đến tín dụng ở các NHTM thường liên quan đến khả năng hoặc ý chí của người vay để trả nợ và thực hiện các cam kết hợp đồng.
Điều này có thể dẫn đến tổn thất vốn hoặc lãi cho các NHTM, đồng thời làm gián đoạn luồng tiền và tăng chi phí thu nợ do việc truy đòi nợ không hiệu quả. RRTD thường xảy ra khi người vay không thể hoặc không muốn trả nợ theo đúng cam kết. Phân loại rủi ro tín dụng 2. Rủi ro tín dụng theo danh mục (Porfolio risk) Loại hình này được chia ra hai nhánh nhỏ, trong đó • Rủi ro nội tại ( Intrinsic risk ) là một dạng rủi ro tín dụng phát sinh từ các yếu tố đặc thù của bên vay hoặc ngành kinh tế mà bên vay hoạt động, bao gồm khả năng tài chính, kinh nghiệm quản lý và các yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của bên vay.
• Rủi ro tập trung ( Concentration risk) là mức độ rủi ro mà doanh nghiệp hoặc tổ chức tài chính phải đối mặt khi dư nợ cho vay tập trung vào một số khách hàng, ngành kinh tế, loại cho vay hoặc khu vực địa lý cụ thể. Rủi ro tín dụng theo giao dịch (Transaction risk) Trong rủi ro tín dụng theo giao dịch sẽ có các loại rủi ro như: • Rủi ro xuất phát từ việc thẩm định và phân tích tín dụng không chính xác, không đầy đủ của bên cho vay dẫn đến khoản vay không mang lại hiệu quả như dự kiến. • Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo, là rủi ro liên quan đến việc đảm bảo các tiêu chuẩn và quy định trong quá trình cấp tín dụng để đảm bảo an toàn và minh bạch trong hoạt động cho vay. • Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay, bao gồm các vấn đề về quản lý rủi ro tín dụng, xác định hạn mức tín dụng, và thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro hiệu quả trong quá trình cấp tín dụng.
NGUYÊN NHÂN CỦA RỦI RO TÍN DỤNG 2. Các nhân tố bên trong Đối với khách hàng vay Khả năng tài chính của khách hàng bao gồm một loạt các yếu tố như sức khỏe tài chính tổng thể, thu nhập, tình trạng nợ xấu, và khả năng thanh toán của khách vay. Tất cả những yếu tố này đều ảnh hưởng đến khả năng của họ trong việc trả nợ. Tình hình kinh doanh và ngành nghề mà khách hàng hoạt động cũng đóng vai trò quan trọng.
Sự ổn định và tiềm năng phát triển của ngành nghề sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng của khách hàng trong việc trả nợ, do ảnh hưởng đến thu nhập và tình trạng tài chính tổng thể của họ. Tiêu chuẩn đạo đức sai lệch của một số khách hàng trong việc trả nợ là một trong những nguyên do dẫn đến rủi ro tín dụng đối với NHTM như sử dụng tiền vay sai mục đích để chiếm đoạt vốn từ NH,… Đối với bên cho vay (các NHTM) Kinh nghiệm quản lý rủi ro của các NHTM còn nhiều thiếu sót trong việc sử dụng các công cụ đánh giá rủi ro thiếu tính đồng nhất với hệ thống kiểm soát RRTD của các NHTM. Quy trình tín dụng còn nhiều lỗ hỏng, không nhất quán đặc biệt trong khâu thẩm định, thiết kế khoản vay cho khách hàng. Nhân viên tín dụng chưa hiểu bản chất mục đích và phương án vay của khách, phân tích không kỹ lưỡng dẫn tới đưa ra các quyết định cho vay không thỏa đáng cũng là một trong những nguyên nhân mang đến RRTD rất cao trong khoản vay của khách.
Lãi suất danh nghĩa (IIR) tăng cao cũng là một nguyên nhân có thể dẫn đến gia tăng Tỷ lệ nợ xấu(Brownbridge, 1998). Đây là lãi suất được tính dựa trên giá trị danh nghĩa, không bao gồm tác động của lạm phát, thường được thể hiện trong các hợp đồng tín dụng. Dự phòng RRTD của các NHTM và tỷ lệ nợ xấu có mối tương quan thuận, điều này được lý giải khi lãi suất vay cao có thể dẫn tới tỷ lệ nợ xấugia tăng từ đó khuyến khích các ngân hàng phải sử dụng nguồn dự phòng của mình để bù đắp những rủi ro có thể xảy ra. 9 Hoạt động theo sát, quản lý khách hàng sau khi vay chưa thật sự được các NHTM đặc biệt chú tâm.
Khoản vay không được khách hàng sử dụng với mục đích như ban đầu thỏa thuận có thể làm thay đổi khả năng trả nợ của khách, vì vậy nếu NHTM không nắm bắt tình hình chi trả trong quá trình vay của khách hàng sẽ không thể đưa ra các biện pháp giải quyết kịp thời dẫn tới việc gia tăng tỷ lệ nợ xấu. Yếu tố con người là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát RRTD trong NHTM, vì một số đội ngũ cán bộ Ngân hàng dễ sa vào các hành vi cấm kị trục lợi riêng cho bản thân vi phạm về các tiêu chuẩn đạo đức, các hoạt động trái pháp luật. Ngoài ra, các cán bộ tín dụng còn yếu kém trình độ nghiệp vụ gây nhiều tổn thất cho NHTM. Các nhân tố bên ngoài Các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, BĐS, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế, pháp lý,.và các yếu tố khác đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng: Theo Gaglianone & Schechtman (2012) tăng trưởng kinh tế có xu hướng tăng sẽ khiến các NHTM lơ là trong việc kiểm định hồ sơ vay từ đó đưa ra các quyết định vay dễ dàng đẩy RRTD lên cao.
Khi các ngân hàng nắm giữ một tài sản thế chấp gia tăng hơn giá trị khoản vay thì họ càng có xu hướng hạ chuẩn để gia tăng tín dụng. Thị trường BĐS gia tăng bùng nổ có thể mang tới nhiều nhu cầu vay, ngân hàng dễ dàng tăng trưởng tín dụng. Ngược lại, các NHTM có xu hướng hạ chuẩn mực khi họ có tài sản thế chấp vượt quá giá trị khoản vay để mở rộng tín dụng vì vậy nếu biến động thị trường BĐS xảy ra có thể gây nên RRTD cho các khoản vay trong lĩnh vực này cho các NHTM. Theo Ben Jabra và cộng sự (2017) tỷ lệ lạm phát và RRTD có tỷ lệ thuận với nhau.
Khi lạm phát tăng, đồng tiền mất giá cùng với các chi phí của dịch vụ nợ tăng theo sẽ khiến người đi vay điêu đứng, mất khả năng hoặc gặp khó khăn trong việc hoàn trả nợ. Hậu quả đẩy RRTD của các NHTM lên cao. Biến động tỷ giá cũng ảnh hưởng đến RRTD, khi nội tệ giảm giá trị, sức mua giảm, khiến giá hàng nhập khẩu tăng. Điều này làm tăng chi phí sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng, có thể dẫn đến lạm phát.
Các doanh nghiệp dựa vào nguyên liệu hoặc sản 10 phẩm nhập khẩu sẽ gặp khó khăn với nợ nần do chi phí vay vốn tăng. Cuối cùng khiến RRTD tăng. Các quy định và các điều khoản luật pháp còn nhiều kẽ hở, thiếu minh bạch đến sự mâu thuẫn và chồng chéo, từ đó làm gia tăng rủi ro cho các hoạt động tín dụng của ngân hàng. Ngoài ra RRTD có thể xảy ra bởi các nguyên nhân khác như hỏa hoạn, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh,… 2.