Chương 1 của khóa luận trình bày về tầm quan trọng của ngành ngân hàng cũng như đưa ra lý do và tính cấp thiết trong việc giải quyết vấn đề phải đối mặt với các tác động tiêu cực của RRTD đối với các NHTM cổ phần ở Việt Nam. Đồng thời, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu để tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của các ngân hàng, bao gồm cả lý do khách quan và lý do chủ quan. Điều này giúp tác giả xác định nội dung trọng tâm và phạm vi nghiên cứu cũng như dụng trong bài nghiên khái quát về các phương pháp tác giả sẽ áp dụng. Cuối cùng, tác giả trình bày tóm tắt về nội dung chính trong bài luận gồm 5 chương.
Nội dung chương là phần cung cấp cái nhìn tổng quan cũng như xây dựng khung lý thuyết cho các chương kế tiếp. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết chính sách tiền tệ Khái niệm Chính sách tiền tệ(CSTT) là tập hợp các biện pháp trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ nhằm điều tiết tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, bảo đảm việc làm và cân bằng cán cân thanh toán.
Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế nhà nước thống nhất. Bằng cách thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương, tác động đến hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại và chỉ đạo điều tiết mở rộng hoặc giảm cho vay đối với nền kinh tế, đạt được sự phát triển ổn định của nền kinh tế trong nước, tăng cường lưu thông tiền tệ và cân bằng các quá trình kinh tế trong nước. Ảnh hưởng của CSTT đối với RRTD Về mặt lý thuyết, tác động của CSTT đối với rủi ro của ngân hàng có nhiều mặt. Trước hết, việc nới lỏng CSTT thông qua cắt giảm lãi suất được kỳ vọng làm giảm chi phí tài chính của người đi vay.
Kết quả là, gánh nặng tài chính được giảm bớt giúp cải thiện hiệu quả kinh doanh của những người đi vay và xác suất vỡ nợ tại ngân hàng cũng giảm theo (Bernanke & ctg, 1995). Dựa trên dữ liệu được thu thập từ các ngân hàng Brazil, Moraes & Mendonca (2019) tìm hiểu CSTT ảnh hưởng đến các phép đo rủi ro của ngân hàng và các phát hiện cho thấy rằng, việc tăng lãi suất CSTT ngụ ý một sự điều chỉnh trong chiến lược của các ngân hàng để đảm bảo an toàn và lành mạnh. Mặt khác, khi NHTW giảm lãi suất, các ngân hàng trở nên kém an toàn hơn, trong đó đặc biệt là rủi ro tín dụng thông qua nợ xấu tăng cao. Kết quả nghiên cứu được xác nhận bằng phương pháp GMM với ước lượng bảng động.
Đối với nghiên cứu trong nước, Nguyễn Thị Kiều Nga và Trần Huy Hoàng (2021) kiểm tra tác động của CSTT đối với việc chấp nhận rủi ro (risk-taking behavior) đã đưa ra kết luận về việc lãi suất liên ngân hàng thấp có xu hướng làm giảm hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, đo lường bằng tỷ số dự phòng rủi ro khách hàng. Tuy nhiên, kết quả này chưa cho thấy bằng chứng đầy đủ về hành vi 9 chấp nhận rủi ro được đánh giá bằng các thang đo rủi ro và CSTT khác nhau, khi chỉ duy nhất tỷ số dự phòng rủi ro khách hàng và lãi suất liên ngân hàng được sử dụng. Trong đó, việc sử dụng chỉ số dự phòng – thang đo tập trung vào rủi ro tín dụng – để đánh giá việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng là chưa mang tính đại diện khi mà đối tượng nghiên cứu này là rộng hơn rất nhiều so với rủi ro tín dụng. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung cụ thể vào khía cạnh rủi ro tín dụng, và lượng hoá loại rủi ro này bằng các thang đo thay thế nhau để đảm bảo việc đánh giá toàn diện, không phụ thuộc 2.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng Theo giáo trình thị trường tài chính và định chế tài chính, NXB Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) xảy ra khi một trong các bên giao dịch không biết tất cả và chính xác những thông tin cần biết về bên kia để đưa ra quyết định đúng đắn trong giao dịch. Khi đó, giá cả trên thị trường sẽ có thể quá thấp hoặc quá cao so với giá cân bằng của thị trường. Bất cân xứng về thông tin có ba đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên giao dịch; thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên; thứ ba, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn. Chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức là hậu quả của vấn đề thông tin bất cân xứng, được tạo ra khi diễn ra cuộc giao dịch.
Bất cân xứng thông tin càng lớn nguy cơ lựa chọn đối nghịch càng cao. Trên thị trường tín dụng, chọn lựa đối nghịch xảy ra khi người đi vay có rủi ro cao không trả được nợ nhưng lại tích cực đi vay nhất và có nhiều khả năng được người cho vay lựa chọn nhất. Về phạm vi rủi ro đạo đức, sau khi vay tiền, người đi vay lại nảy sinh ý định sử dụng vốn sang mục đích khác với thỏa thuận ban đầu làm cho món vay ít có khả năng hoàn trả hơn. LÝ THUYẾT RỦI RO TÍN DỤNG 2.
Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Jorion (2009), rủi ro tín dụng là rủi ro tổn thất kinh tế do bên đối tác không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng được kí kết giữa các bên liên quan. Rủi ro này được đo lường bằng chi phí phải bỏ ra để có được dòng tiền thay thế nếu bên đối tác phá sản. Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng 10 không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xuất phát từ tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của người vay trong việc thực hiện các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng tín dụng.
Nói cách khác, rủi ro tín dụng là khả năng người vay không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, gây tổn thất về tài sản cho NHTM. Như vậy, có thể hiểu rủi ro tín dụng có thể xuất hiện khi gặp phải các vấn đề như khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện chậm các khoản vay gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng như giảm thu nhập ròng và thất thoát vốn của ngân hàng. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng mang tính khách quan Rủi ro tín dụng mang tính khách quan là bởi vì ngân hàng thương mại đóng vai trò là bên trung gian đáp ứng nhu cầu của 2 chủ thể là người gửi tiền đầu tư và người đi vay. Vì lẽ đó, trongquá trình cho vay, nếu phía bên người đi vay không thực hiện hoặc không thực hiện hoàn trả đầy đủ các khoản vay sẽ dẫn đến việc ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng khi không thể hoàn trả lại đầy đủ khoản tiền cho người gửi tiền đầu tư.
Đa dạng và phức tạp Bên cạnh việc rủi ro đến từ người đi vay khi nhu cầu tín dụng của các khách hàng được trải rộng ở nhiều lĩnh vực dẫn đến nhiều nguy cơ rủi ro khác nhau, thì NHTM còn gặp phải các vấn đề về tác động của nền kinh tế vĩ mô cũng như các yếutố chủ quan từ phía NH. Do đó, có thể nói RRTD là đa dạng và phức tạp trong quá tình thực hiện đo lường và kiểm soát. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch (Transaction risk). Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch có 3 thành phần là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tính dụng. Trong đó, việc ngân hàng phân tích, xem xét và chọn phương án cho vay đối với từng khách hàng là rất quan trọng. Vì vậy nếu trong quá trình thẩm định và phân 11 tích có vấn đề sẽ gây ra rủi ro tín dụng. Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo như hợp đồng giao kết, chủ thể, cách thức và mức tiền cho vay.
Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay của các cán bộ nhân viên tại ngân hàng. Rủi ro danh mục Rủi ro danh mục được phân loại ra hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung ( Concentration risk). Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Rủi ro tập trung là mức dư nợ cho vay được dồn cho một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 2. Yếu tố từ phía khách hàng: Khả năng tài chính yếu kém Khách hàng không có đủ nguồn lực tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, có thể do mất việc làm, giảm thu nhập, chi phí gia đình tăng cao, hoặc làm ăn thua lỗ. Quản lý tài chính kém Do thiếu kinh nghiệm hoặc quản lý tài chính yếu kém, khách hàng có thể không sử dụng vốn vay đúng mục đích, dẫn đến không có khả năng trả nợ. Rủi ro kinh doanh Đối với các doanh nghiệp, rủi ro có thể đến từ sự thay đổi trong mô hình kinh doanh, cạnh tranh gia tăng, hoặc các yếu tố bất ngờ khác làm giảm doanh thu, từ đó gây khó khăn trong việc trả nợ.
Yếu tố từ phía ngân hàng thương mại: Chính sách tín dụng không thận trọng Ngân hàng có thể quá lỏng lẻo trong việc xét duyệt khoản vay, không đánh giá đầy đủ khả năng trả nợ của khách hàng, dẫn đến cấp tín dụng cho những khách hàng có khả năng trả nợ thấp. 12 Quy trình thẩm định và giám sát yếu kém Ngân hàng thiếu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên đối với các khoản vay, không phát hiện kịp thời các dấu hiệu nợ xấu hoặc nguy cơ không trả nợ. Chưa đa dạng hóa danh mục tín dụng Nếu ngân hàng tập trung vào một số ít khách hàng hoặc ngành nghề, khi các khách hàng này gặp khó khăn, ngân hàng sẽ chịu rủi ro lớn hơn.