chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu trong nước được trình bày đã nghiên cứu về các mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định điều chỉnh lợi nhuận của công ty cổ phần niêm yết. Còn các công trình nghiên cứu nước ngoài hầu hết là các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các biến độc lập và hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các quốc gia khác nhau, trong các thời điểm khác nhau. Dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu này, trên cơ sở phân tích lựa chọn có sự tham khảo ý kiến của chuyên gia, tác giả tiếp tục kế thừa một vài nhân tố để xem xét mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của chúng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Những nhân tố được đề cập ở đây là: đòn bẩy tài chính, đa dạng đầu tư, tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư, quy mô công ty, chất lượng kiểm toán và tỷ lệ độc lập của HDQT. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 2. Lợi nhuận Lợi nhuận là thước đo kết quả HĐKD của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí.
Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng và quan trọng của một công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận: - Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson at al. (1958) định nghĩa rằng: “ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”.
- Theo VAS 17 thì: “lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”. Lợi nhuận đối với kế toán tài chính thường được công bố rộng rãi ra bên ngoài, đặc biệt là đối với công ty cổ phần niêm yết, các công bố này là tài liệu nghiên cứu cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và một số ngân hàng thương mại. Lợi nhuận đối với kế toán quản trị chủ yếu phục vụ cho ban lãnh đạo, hội đồng quản trị và nội bộ doanh nghiệp. - Từ các quan điểm trên, theo góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động đưa lại, là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.
Tóm lại, theo đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi quản trị lợi nhuận (cụ thể là của nhà quản trị) trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM, vì thế, đề tài hướng đến nghiên cứu lợi nhuận thuộc phạm vi kế toán TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 tài chính, nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được kiểm toán và công bố rộng rãi trên trang mạng thông tin đại chúng (http://finance. Vì có như vậy, đề tài mới có căn cứ để xác định có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị. Hành vi quản trị lợi nhuận 2. Khái niệm Hành vi điều chỉnh lợi nhuận đã trở thành một lĩnh vực được nghiên cứu sâu rộng trên thế giới.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các nhà nghiên cứu thường phát triển định nghĩa riêng của họ về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để phù hợp với mục đích của họ ( Noronha, et al. Davidson và các cộng sự (1987) định nghĩa, quản trị lợi nhuận là quy trình bao gồm các bước có cân nhắc kỹ lưỡng trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, nhằm mang lại mức lợi nhuận mong muốn. Theo Schipper (1989) cho rằng, quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân.
Theo Levitt (1998) thì điều chỉnh lợi nhuậnlà hành động nhằm làm cho báo cáo tài chính phản ánh mong muốn của nhà quản trị chứ không phải là hoạt động tài chính cơ bản của công ty. Tương đồng với các quan điểm trên, Parfet (2000) cũng cho rằng điều chỉnhlợi nhuận được thực hiện nhằm che giấu hoạt động tài chính thực bằng cách tạo ra các nghiệp vụ kế toán không có thực hoặc làm các dự toán không hợp lý. Tuy nhiên, ngược lại những quan điểm trên, Beneish (2001) lại cho rằng mục đích điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý là nhằm công bố thông tin với chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ về các dòng tiền mà doanh nghiệp sẽ mang đến trong tương lai. Ngoài ra, tùy thuộc vào mục tiêu công bố thông tin, Ronen và Yaari (2008) đã phân loại khái niệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thành ba nhóm như sau: - Nhóm điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): các nhà quản lý dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai.
Đây được xem là nhóm có lợi và gia tăng chất lượng chất lượng báo cáo tài chính. - Nhóm điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các nhà quản lý lựa chọn các chính sách kế toán trong và ngoài giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp hoặc vì lợi ích của họ. - Nhóm điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): là hành vi sử dụng các thủ thuật của quản lý để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của báo cáo tài chính.TS Nguyễn Công Phương (2009): Điều chỉnh lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán. Trong nghiên cứu này tác giả xin trình bày định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Healy &Wahlen (1999) cũng tương đồng với nhận định của TS.
Đường Nguyễn Hưng (2013) như sau: “Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện khi các nhà quản lý sử dụng các xét đoán trong báo cáo tài chính và trong cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo tài chính nhằm đánh lừa các bên có liên quan về kết quả hoạt động kinh doanh tiềm ẩn của doanh nghiệp, hoặc nhằm tác động đến các kết quả của hợp đồng mà chúng phụ thuộc vào số liệu kế toán được báo cáo”. Theo định nghĩa trên ta có thể hiểu nhà quản lý có hai thủ thuật để tác động điều chỉnh lợi nhuận theo mong muốn chủ quan: Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận thông qua các xét đoán kế toán và thông qua cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế. Dưới đây là một số phương pháp điều chỉnh lợi nhuận được tập hợp bởi Tiến sĩ Đường Nguyễn Hưng (2013) cũng tương tự như quan điểm này. Thủ thuật quản trị lợi nhuận lợi nhuận 2.
Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn:Nếu doanh nghiệp ghi nhận doanh thu, giá vốn theo tiến độ hoàn thành thì phương pháp này cho phép TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các ước tính mức độ hoàn thành công việc. Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định:Lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ. Lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tại thời điểm chưa phát sinh chi phí và mức trích này sẽ gia tăng chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ.
Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho: Doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và lợi nhuận trong kỳ. Lựa chọn phương pháp kế toán chi phí lãi vay: Đối với khoản chi phí lãi vay tùy trường hợp có thể được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ hoặc ghi nhận như là chi phí phát sinh. Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán, do đó trong trường hợp này doanh nghiệp có thể lợi dụng kế toán chi phí lãi vay để điều chỉnh lợi nhuận. Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh: Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ, ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp Ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán: Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng, ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng 2.
Quản trị lợi nhuận thông qua các quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh doanh Quyết định về thời điểm lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ: Nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua quyết định thời điểm thanh lý, nhượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 bán TSCĐ để đẩy nhanh hay làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận thua lỗ của các hoạt động khác.