chương 1 trình bày: (1) Các nghiên cứu về KTQTMT và (2) Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT. Đối với nội dung các nghiên cứu về KTQTMT, tác giả phân nhóm thành 2 dòng nghiên cứu cơ bản là (1) Các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT; (2) Các nghiên cứu vận dụng KTQTMT trong các tổ chức khác nhau. Trong mỗi dòng nghiên cứu đều bao gồm các nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu trong nước. Đối với nội dung các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT, tác giả khảo lược các nghiên cứu trước theo từng nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT.
Và vì khảo lược theo từng nhân tố nên tác giả không phân chia thành các nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu ở trong nước. Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả rút ra các nhận xét về các nghiên cứu đã thực hiện, xác định khe hổng nghiên cứu từ đó hình thành nên định hướng cho nghiên cứu.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ MÔI TRƯỜNG Tại các quốc gia phát triển KTQTMT nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong giai đoạn từ 1997 đến nay (Schaltegger và cộng sự, 2011). Các nghiên cứu chung về KTQTMT, bao gồm hai dòng nghiên cứu chính là các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT và các nghiên cứu vận dụng KTQTMT tại một đơn vị, tổ chức cụ thể. Phần dưới đây trình bày lược khảo một số nghiên cứu tiêu biểu thuộc hai dòng nghiên cứu chính này.1 Các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Những nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT đã trình bày khái niệm, các tiêu thức phân loại thông tin MT, phương pháp xác định CP, thu nhập (TN) MT và các hướng dẫn về KTQTMT.
Có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu như: Ủy ban Bảo vệ môi trường Mỹ USEPA (1995); Sefcek và cộng sự (1997); Elkington (1997); Ủy ban phát triển bền vững của Liên hiệp quốc UNDSD (2001); Burritt và cộng sự (2002); Lamberton (2005); IFAC (2005). Các nghiên cứu này đã trình bày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nhiều khái niệm về KTQTMT và hiện nay vẫn chưa có khái niệm được thống nhất chung. Tuy nhiên, những khái niệm do UNDSD (2001) và khái niệm do IFAC (2005) đề xuất được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về KTQTMT (Schaltegger và cộng sự, 2011). Thuộc nhóm các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT còn có các nghiên cứu về phương pháp xác định CPMT.
Trong đó có thể kể đến các dòng nghiên cứu như: (1) Kế toán chi phí (KTCP) theo dòng vật liệu (UNDSD, 2001; Bộ Môi trường Đức FEM, 2003; IFAC, 2005; Schaltegger và Buritt, 2017); (2) KTCP theo chu kỳ sống (Parker, 2000; Schaltegger và Buritt, 2017), (3) KTCP theo mức độ hoạt động (Stuart và cộng sự, 1999), (4) KTCP đầy đủ (Epstein,1996); Bebbington và cộng sự, 2001), và (5) KTCP toàn bộ (USEPA, 1995). Các nghiên cứu phân loại CP theo nhóm (1), (2) và (3) nhằm phục vụ cho mục tiêu phân tích CP, còn các nghiên cứu phân loại theo nhóm (4) và (5) nhằm phục vụ cho mục tiêu thẩm định dự án đầu tư. USEPA (1995) đã phân loại CPMT theo mức độ và phạm vi sử dụng thông tin. Theo đó, CPMT trong phạm vi nội bộ DN bao gồm: (1) CP truyền thống; (2) CP ẩn; (3) CP tiềm tàng; (4) CP hình ảnh và CPMT ngoài phạm vi DN là CP xã hội.
Từ đây, USEPA (1995) đưa ra hướng dẫn về xác định và phân bổ CPMT cho các dự án đầu tư dài hạn. Nghiên cứu của Sefcek và cộng sự (1997) là một đóng góp của Mỹ cho dòng nghiên cứu này. Tuy nhiên, các tác giả không đề cập đến các vấn đề đạo đức mà các tác giả khác đã sử dụng để thúc đẩy KTMT (ví dụ Gray và Bebbington, 2001). Thay vào đó, Sefcek và cộng sự (1997) soạn thảo các hướng dẫn về KTMT từ quan điểm của các bên liên quan và trách nhiệm giải trình.
Elkington (1997) biên soạn một cuốn sách dài hơn 400 trang, phác thảo tầm nhìn về tương lai của nền kinh tế công nghiệp phương Tây. Quyển sách này thâm nhập tất cả các khía cạnh của hoạt động KD bao gồm: công nghệ vòng đời, đổi mới quản trị nội bộ, hoàn thiện SP, dịch vụ, tuân thủ các quy định và trách nhiệm giải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 trình. Theo tác giả, khi thực hiện tất cả các hướng dẫn trên, các tập đoàn sẽ tồn tại và phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong hướng dẫn của UNDSD (2001), CPMT được giới hạn trong phạm vi CP trong DN.
Theo đó, CPMT bao gồm: CP xử lý chất thải, CP quản lý ô nhiễm MT, CP NVL và CP chế biến của đầu ra phi SP. UNDSD (2001) đưa ra các hướng dẫn về xác định CPMT theo dòng NVL, phân bổ CP theo mức độ hoạt động và lập báo cáo CPMT. Burritt và cộng sự (2002) đề xuất một khuôn khổ toàn diện cung cấp các hướng dẫn cho nhà quản trị sử dụng các công cụ đa dạng của KTQTMT với mục đích khuyến khích việc áp dụng chúng. Trong khi đó Lamberton (2005), đề xuất một khung KT nhằm cung cấp thông tin phù hợp cho quản trị nội bộ và các đối tượng sử dụng tiềm năng khác.
IFAC (2005), kế thừa định nghĩa, cách phân loại thông tin KTQTMT của UNDSD (2001), nhưng trình bày chi tiết hơn về thông tin KTQTMT theo thước đo hiện vật và KTQTMT theo thước đo giá trị. Từ đó, IFAC (2005) đưa ra các ví dụ minh họa áp dụng KTQTMT cho quản trị nội bộ.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam, các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT chủ yếu dựa vào nghiên cứu của UNDSD (2001) và IFAC (2005). Các nghiên cứu này tập trung vào khái niệm, phân loại, phương pháp xác định CP, TN môi trường và hạch toán các khoản CP, TN môi trường, hoặc rút ra bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác để hình thành những hướng dẫn về KTQTMT. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật sau đây: Nguyễn Chí Quang (2003), đã trình bày cơ sở lý thuyết về KTMT trong DN.
Trong đó tác giả giới thiệu các tiêu thức phân loại và xác định CPMT, phương pháp hạch toán KTCP đầy đủ. Tuy nhiên nghiên cứu chưa trình bày rõ về phương pháp xử lý và cung cấp thông tin môi trường (TTMT) trên các báo cáo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Mai (2012) đề xuất cách phân loại CPMT theo tiêu thức phân loại CP truyền thống và phương pháp xác định CPMT theo chu kỳ sống, phân bổ CP theo mức độ hoạt động. Nghiên cứu này chưa trình bày đầy đủ các tiêu thức phân loại CPMT và chưa trình bày phương pháp KTCP theo dòng vật liệu như hướng dẫn KTMT của UNDSD (2001) và IFAC (2005).
Phạm Đức Hiếu (2010) chỉ ra những điểm khác nhau về cách hạch toán CP xử lý chất thải giữa KTCP truyền thống và KTCP môi trường. Nghiên cứu đi đến đề xuất các DN cần thực hiện KTCP môi trường nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng. Võ Văn Nhị và Nguyễn Thị Đức Loan (2013), đã trình bày định nghĩa, phân loại thông tin KTMT và các điều kiện để tổ chức KTMT ở Việt Nam nói chung. Nhóm tác giả chưa đi sâu nghiên cứu cho từng nhóm Kế toán tài chính (KTTC) môi trường và KTQTMT.
Trong nghiên cứu “KTMT của các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, tác giả Huỳnh Đức Lộng (2015) đã tổng kết kinh nghiệm thực hiện KTMT của Mỹ, Nhật, Đức và Hàn Quốc, từ đó rút ra nhận xét: yếu tố thúc đẩy việc thực hiện KTMT trong các DN là: hệ thống các văn bản chính sách, pháp luật; sự phối hợp của cơ quan chức năng, tổ chức MT và hiệp hội nghề nghiệp; sự hỗ trợ tài chính của các tổ chức khác. Tác giả cũng cho biết, khi thực hiện KTMT hiệu quả KD của DN sẽ tăng lên, từ đó tạo động lực cho các DN khác thực hiện KTMT. Tùy theo đặc điểm riêng về lĩnh vực KD, năng lực của KT và trình độ của nhà quản trị, mà mỗi DN có thể thực hiện một hoặc nhiều nội dung của KTMT, bao gồm: Phân tích dòng CP nguyên vật liệu (NVL); Phân tích CP vòng đời SP; KT thu nhập về MT; Đánh giá hiệu quả hoạt động MT; Trình bày TTMT. Hoàng Thị Bích Ngọc (2014) đã nghiên cứu thực hiện KTQTMT tại Nhật Bản và rút ra một số bài học cho Việt Nam.
Nghiên cứu đi đến nhận xét KTQTMT thường được áp dụng tại các DNSX có quy mô lớn và cần có sự hỗ trợ của các các cơ quan chức năng thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ngoài ra, còn có nghiên cứu về “Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thành quả HĐMT của DN” của Huỳnh Đức Lộng (2016). Trong nghiên cứu này, tác giả đã khái quát các chỉ tiêu đánh giá kết quả HĐMT và các chỉ tiêu đánh giá HQKT môi trường, nhằm làm cơ sở cho việc đánh giá thành quả hoạt động của DN.2 Các nghiên cứu vận dụng Kế toán quản trị môi trường 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Thời gian qua, rất nhiều tác giá quan tâm đến việc vận dụng KTQTMT trong các tổ chức khác nhau. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Brown và Deegan (1998); Verschoor (1998); Bartolomeo và cộng sự (2000); Frost và Wilmshurst (2000); Frost và Seamer (2002); Burritt và cộng sự (2002); Masanet- Llodra (2006); Burritt và Saka (2006); Kokubu và Nashioka (2008).
Brown và Deegan (1998) đã kiểm tra việc công khai thông tin về hiệu quả HĐMT theo lý thuyết cơ chế truyền thông và lý thuyết hợp pháp. Chín ngành công nghiệp đã được xem xét trong giai đoạn 1981-1994. Các tác giả lập luận rằng các phương tiện truyền thông có thể thúc đẩy mối quan tâm của cộng đồng về HQMT của các tổ chức, dẫn đến việc tiết lộ thông tin về MT trong báo cáo hàng năm. Trong phần lớn các ngành công nghiệp nghiên cứu, mức độ quan tâm của giới truyền thông cao hơn có liên quan đáng kể với mức độ tiết lộ TTMT hàng năm cao hơn.
Những phát hiện quan trọng đã ủng hộ giả thuyết với 5 trong số 9 ngành công nghiệp. Tuy nhiên, các tác giả cũng cho thấy một số hạn chế của nghiên cứu. Thứ nhất, nguồn phương tiện truyền thông bị hạn chế về tính sẵn có, và cũng không xác định được đâu là nguồn thông tin có ảnh hưởng lớn nhất ở Australia. Thứ hai, các phương tiện truyền thông chú ý đến các sự kiện cụ thể không liên quan đến việc tiết lộ TTMT.