Mở đầu: Đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về ngành BĐS và vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, từ đó liên hệ tới vấn đề hiệu quả tài chính và đưa ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, đồng thời khái quát về cách thức để nghiên cứu đề tài. Tổng quan lý thuyết về hiệu quả tài chính và các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính: Đưa ra các cơ sở lý luận, các lý thuyết về hiệu quả tài chính và các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở các lý thuyết nêu trên, trình bày quy trình cụ thể sẽ được tiến hành để nghiên cứu về đề tài trong thực tiễn. Thực trạng hiệu quả tài chính và các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các CTCP ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: Nêu lên đặc điểm của ngành BĐS, thực trạng hiệu quả tài chính thông qua các chỉ tiêu ROS, ROA, ROE và thực trạng các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các CTCP ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nội dung kết quả nghiên cứu: Dựa trên các số liệu thống kê thực tế thu thập được đưa ra các phân tích, đánh giá, kiểm định sự đúng đắn của mô hình các nhân tố ảnh hưởng được xây dựng. Từ đó đưa ra kết quả nghiên cứu và giải thích mô hình các nhân tố tác động. Kết luận và một số kiến nghị: Từ những nội dung kết quả nghiên cứu thu được đưa ra một số giải pháp, kiến nghị về việc hoạt động, quản lý công ty để đạt được hiệu quả tài chính tốt đối với các CTCP ngành BĐS tại Việt Nam hiện nay. 4 Thang Long University Library CHƢƠNG 2.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 2. Tổng quan về hiệu quả tài chính 2. Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả tài chính 2. Khái niệm về hiệu quả Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau.
Trong sản xuất, hiệu quả là nghĩa là hiệu suất, năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung hiệu quả là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. (Nguồn: http://daitudien.net/kinh-te-hoc/kinh-te-hoc-ve-hieu-qua.
Khái niệm về hiệu quả tài chính Trước hết, bản chất của hiệu quả tài chính chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất. Hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng kh o l o của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận. Vậy hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực; tài chính của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất.
Nguyễn Năng Phúc – Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính – NXB Đại học Kinh tế quốc dân ( 2013) – Trang 199) Thực chất của hiệu quả tài chính là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp trong một k nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Nếu gọi H là hiệu quả tài chính ( hiệu quả kinh doanh) thì H được thể hiện theo công thức toán học như sau: ết quả đ u ra H= Yếu tố đ u vào Công thức trên phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào ( vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị… ) thì tạo ra được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận… trong một k kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng t hiệu quả tài chính của doanh nghiệp càng tốt. 5 Trong đề tài khóa luận này, tác giả sẽ đưa ra những nghiên cứu trước đây về thước đo để đo lường hiệu quả tài chính từ đó nêu lên những thước đo sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, phân tích. Dưới đây là một số nghiên cứu về thước đo hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Thước đo hiệu quả tài chính Bảng 2. Một số nghiên cứu về hiệu quả tài chính Thƣớc đo Nghiên cứu Lợi suất cổ tức (DY) - Ming, TC & Gee, CS 2008 - Ongore, VO 2011 Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Hu, Y & Izumida, S 2008 Tỉ suất sinh lời trên VCSH (ROE) Hu, Y & Izumida, S 2008 Tỉ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) - Le, TV & Buck, T 2011 - Jenkins, M, Ambrosini, V & Collier, N 2011 Tỉ suất sinh lời trên vốn đầu tư (ROI) - Shah, SZA, Butt, SA & Saeed, MM 2011 - Jenkins, M, Ambrosini, V & Collier, N 2011 Hệ số giá trị thị trường (Marris và Tian, L & Estrin, S 2008 Tobin’s Q) (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ các nghiên cứu trước) Trước hết, việc sử dụng thước đo nào để đánh giá về hiệu quả tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng. Có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp, nhưng các chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trong các nghiên cứu có thể chia thành hai loại chính là các hệ số giá trị kế toán hay còn gọi là các hệ số về lợi nhuận và các hệ số giá trị thị trường hay còn gọi là các hệ số về tăng trưởng tài sản. Theo như nghiên cứu của Hu, Y & Izumida, S năm 2008 cho biết các chỉ tiêu lợi nhuận được dùng nhiều nhất bao gồm tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỉ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE).
Bên cạnh đó, hai nghiên cứu của Ming & Gee 2008 và Ongore 2011 còn sử dụng chỉ số lợi suất cổ tức (DY), nghiên cứu của Le & Buck 2011 sử dụng chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), hay trong nghiên cứu năm 2011 của Shah, Butt & Saeed lại sử dụng chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) để đo lường hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong nghiên cứu của Shah, Butt & Saeed thì cách sử dụng ROI lại chính là ROA. Đối với nhóm hệ số giá trị thị trường, theo nghiên cứu của Tian, L & Estrin, S năm 2008, hai hệ số Marris và Tobin’s Q cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Trong đó hệ số Marris được tính là tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu so với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, và hệ số Tobin’s Q được tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị sổ sách các khoản nợ phải trả so với 6 Thang Long University Library giá trị sổ sách của tổng tài sản.
Tuy nhiên, các hệ số này chỉ đánh giá được hiệu quả của phần vốn sở hữu Nhà nước, bởi lẽ nó chỉ phản ánh được trực tiếp mức độ tăng trưởng giá trị VCSH trong cơ cấu vốn doanh nghiệp. Nhìn chung ROS, ROA, ROE là ba thước đo được sử dụng phổ biến nhất trong việc đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Trong khóa luận này, tác giả sẽ sử dụng ba chỉ tiêu trên để đánh giá hiệu quả tài chính của các CTCP ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bởi các chỉ tiêu này có thể phản ánh được cách nhìn quá khứ, cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào, khả năng tạo ra lợi nhuận mà các công ty đã đạt được trong các k kế toán vừa qua ra sao, không những thế các chỉ tiêu này còn giúp cho chúng ta có một cách nhìn dễ dàng trong việc so sánh các doanh nghiệp cùng ngành với nhau. Bên cạnh đó, sự kết hợp của ba nhóm hệ số này có thể đưa ra cho nhà quản lý, lãnh đạo các công ty, cổ đông và thị trường những đánh giá bao quát về hiệu quả tài chính trong quá khứ cũng như tiềm năng lợi nhuận và tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Khả năng tạo ra doanh thu của doanh nghiệp là những chiến lược dài hạn, quyết định tạo ra lợi nhuận và nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như hiệu quả tài chính. Song mục tiêu cuối cùng của nhà quản trị không phải doanh thu mà là lợi nhuận sau thuế. Do vậy để tăng lợi nhuận sau thuế cần phải duy trì tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc đốc tăng của chi phí, khi đó mới có sự tăng trưởng bền vững. Mặt khác chỉ tiêu này cũng thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị nhằm tăng sự cạnh tranh trên thị trường, chỉ tiêu này được xác định như sau: ợi nhuận sau thuế T suất sinh l i trên doanh thu (ROS)= oanh thu thu n Chỉ tiêu này cho biết trong một kì phân tích, doanh nghiệp nhận được 1 đồng doanh thu thuần thì sẽ thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này càng cao chứng t hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt, hiệu quả tài chính đạt được càng cao. Đó là nhân tố giúp nhà quản trị mở rộng thị trường, tăng doanh thu. Chỉ tiêu này thấp thì hiệu quả tài chính đạt được càng thấp, bởi vậy nhà quản trị cần tăng cường kiểm soát chi phí của các bộ phận. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Trong quá trình tiến hành những hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp mong muốn mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ nhằm tăng trưởng mạnh, nâng cao hiệu quả tài chính.
Do vậy nhà quản trị thị trường thường đánh giá hiệu quả sử dụng các tài sản đã đầu tư, được xác định bằng công thức: 7 ợi nhuận sau thuế T suất sinh l i trên tổng tài sản (RO ) = Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong một kì phân tích, doanh nghiệp b ra 1 đồng tổng tài sản để đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng t hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, hiệu quả tài chính đạt được càng cao và ngược lại.