Nhận Thức Về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ Của Giáo Viên Tại Các Trường Chuyên Biệt Ở TP.HCM

Chuyên khảo phân tích Luận văn nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ của giáo viên một số trường chuyên biệt tại thành phố hồ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Tâm Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2019

104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. MỞ ĐẦU: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VỀ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Những nghiên cứu nhận thức về tự kỷ trên thế giới

1.3. Những nghiên cứu nhận thức về tự kỷ ở Việt Nam

1.4. Lý luận về nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ của giáo viên trường chuyên biệt

2. THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ CỦA GIÁO VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT

2.1. Tổ chức nghiên cứu

2.2. Mục đích nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Khái quát về khách thể nghiên cứu thực trạng

2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ của giáo viên một số trường chuyên biệt

2.6. Thực trạng nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ của giáo viên trường chuyên biệt

2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ của giáo viên một số trường chuyên biệt

2.8. Một số biện pháp nâng cao nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ của giáo viên một số trường chuyên biệt

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nhận Thức Rối Loạn Phổ Tự Kỷ ASD Hiện Nay

Nghiên cứu về nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ (ASD) ngày càng trở nên quan trọng. Theo "Cẩm nang chẩn đoán các rối loạn tâm thần" (DSM-5), tỷ lệ lưu hành của ASD là khoảng 1%. Tại TP.HCM, có hơn 50 cơ sở can thiệp cho trẻ có rối loạn phát triển, bao gồm cả trẻ tự kỷ. Giáo viên tại các trường chuyên biệt đóng vai trò quan trọng trong việc can thiệp và hỗ trợ trẻ tự kỷ. Nhận thức đúng đắn về tình trạng của trẻ giúp giáo viên áp dụng các phương pháp can thiệp phù hợp và hiệu quả. Ngược lại, nhận thức sai lệch có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tương tác và hiệu quả can thiệp. Do đó, việc nâng cao nhận thức về RLPTK cho giáo viên là vô cùng cần thiết. Theo kết quả khảo sát năm 2011 của Nguyễn Thị Tường Vân, hiện trạng giáo dục trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục hòa nhập còn nhiều hạn chế.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Nhận Thức Về Tự Kỷ Của Giáo Viên

Nhận thức đúng đắn về tự kỷ giúp giáo viên xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp với nhu cầu cá nhân của từng trẻ. Điều này bao gồm việc hiểu rõ các đặc điểm, hành vi và khó khăn mà trẻ tự kỷ thường gặp phải. Giáo viênkiến thức về tự kỷ sẽ có khả năng tạo ra môi trường học tập hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển và hòa nhập của trẻ. Sự hiểu biết này cũng giúp giáo viên giao tiếp hiệu quả hơn với phụ huynh và các chuyên gia khác, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình can thiệp.

1.2. Thực Trạng Đào Tạo Về Tự Kỷ Cho Giáo Viên Tại TP.HCM

Mặc dù có nhiều cơ sở giáo dục chuyên biệt, số lượng giáo viên được đào tạo chuyên sâu về giáo dục đặc biệt vẫn còn hạn chế. Nhiều giáo viên tốt nghiệp từ các ngành khác nhau, và chương trình đào tạo của họ có thể không bao gồm đầy đủ kiến thức về khuyết tật phát triển ở trẻ em. Điều này đặt ra thách thức trong việc đảm bảo rằng tất cả giáo viên đều có đủ kiến thức và kỹ năng để hỗ trợ trẻ tự kỷ một cách hiệu quả. Cần có các chương trình đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên.

II. Thách Thức Trong Nhận Thức Về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ ASD

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu và thông tin về rối loạn phổ tự kỷ (ASD), vẫn còn tồn tại nhiều thách thức trong việc nâng cao nhận thức cho giáo viên. Một số giáo viên có thể có những quan niệm sai lầm hoặc thiếu kiến thức về các đặc điểm và nguyên nhân của tự kỷ. Điều này có thể dẫn đến việc áp dụng các phương pháp can thiệp không phù hợp hoặc tạo ra những rào cản trong giao tiếp và tương tác với trẻ tự kỷ. Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin và tài liệu chuyên môn về tự kỷ cũng có thể là một khó khăn đối với một số giáo viên.

2.1. Quan Niệm Sai Lầm Về Tự Kỷ Ảnh Hưởng Đến Giáo Viên

Một số giáo viên có thể tin rằng tự kỷ là một bệnh có thể chữa khỏi, hoặc do các yếu tố tâm lý gây ra. Những quan niệm này có thể ảnh hưởng đến thái độ và cách tiếp cận của giáo viên đối với trẻ tự kỷ. Ví dụ, giáo viên có thể kỳ vọng quá cao vào khả năng phục hồi của trẻ, hoặc đổ lỗi cho phụ huynh về tình trạng của trẻ. Điều quan trọng là phải cung cấp cho giáo viên thông tin chính xác và khoa học về tự kỷ, giúp họ hiểu rõ bản chất của rối loạn và cách hỗ trợ trẻ một cách hiệu quả nhất.

2.2. Khó Khăn Trong Tiếp Cận Thông Tin Về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ

Không phải tất cả giáo viên đều có cơ hội tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu về tự kỷ. Việc tìm kiếm và tiếp cận các tài liệu, nghiên cứu khoa học về tự kỷ cũng có thể là một thách thức, đặc biệt đối với những giáo viên ở vùng sâu, vùng xa. Cần có các kênh thông tin dễ tiếp cận và các chương trình đào tạo trực tuyến để giúp giáo viên cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn về tự kỷ.

III. Phương Pháp Đánh Giá Nhận Thức Về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ ASD

Để đánh giá nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ (ASD) của giáo viên, cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp. Các phương pháp này có thể bao gồm khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp và phân tích tài liệu. Bảng hỏi có thể được sử dụng để thu thập thông tin về kiến thức, thái độ và kinh nghiệm của giáo viên về tự kỷ. Phỏng vấn trực tiếp có thể giúp làm rõ các vấn đề phức tạp và thu thập thông tin chi tiết hơn. Phân tích tài liệu có thể giúp đánh giá các chương trình đào tạo và tài liệu hướng dẫn về tự kỷ.

3.1. Sử Dụng Bảng Hỏi Để Đánh Giá Nhận Thức Của Giáo Viên

Bảng hỏi là một công cụ hiệu quả để thu thập thông tin từ một số lượng lớn giáo viên. Các câu hỏi trong bảng hỏi nên được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu và bao gồm các khía cạnh quan trọng của nhận thức về tự kỷ, chẳng hạn như kiến thức về các đặc điểm, nguyên nhân và phương pháp can thiệp. Bảng hỏi cũng nên bao gồm các câu hỏi về thái độ và kinh nghiệm của giáo viên trong việc làm việc với trẻ tự kỷ.

3.2. Phỏng Vấn Sâu Để Hiểu Rõ Hơn Về Nhận Thức Về Tự Kỷ

Phỏng vấn trực tiếp cho phép nhà nghiên cứu tương tác trực tiếp với giáo viên và thu thập thông tin chi tiết hơn về nhận thức của họ về tự kỷ. Phỏng vấn cũng cho phép nhà nghiên cứu làm rõ các câu trả lời không rõ ràng và khám phá các vấn đề phức tạp hơn. Phỏng vấn nên được thực hiện bởi những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực tự kỷ và có kỹ năng giao tiếp tốt.

IV. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nhận Thức Về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên về rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Các yếu tố này có thể bao gồm trình độ đào tạo, kinh nghiệm làm việc với trẻ tự kỷ, tham gia các khóa đào tạo về tự kỷ, và tiếp cận thông tin và tài liệu chuyên môn. Giáo viên có trình độ đào tạo cao hơn và có nhiều kinh nghiệm làm việc với trẻ tự kỷ thường có nhận thức tốt hơn về ASD. Tham gia các khóa đào tạo về tự kỷ cũng giúp giáo viên nâng cao kiến thức và kỹ năng của mình.

4.1. Trình Độ Đào Tạo Ảnh Hưởng Đến Nhận Thức Về Tự Kỷ

Giáo viên có trình độ đào tạo chuyên sâu về giáo dục đặc biệt hoặc tâm lý học thường có nhận thức tốt hơn về tự kỷ so với giáo viên không có chuyên môn. Các chương trình đào tạo này cung cấp cho giáo viên kiến thức nền tảng về các đặc điểm, nguyên nhân và phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ.

4.2. Kinh Nghiệm Làm Việc Với Trẻ Tự Kỷ Tác Động Đến Nhận Thức

Kinh nghiệm thực tế trong việc làm việc với trẻ tự kỷ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên. Giáo viên có nhiều kinh nghiệm thường có khả năng nhận biết các dấu hiệu của tự kỷ sớm hơn và áp dụng các phương pháp can thiệp phù hợp hơn. Kinh nghiệm cũng giúp giáo viên phát triển sự đồng cảm và hiểu biết sâu sắc hơn về những khó khăn mà trẻ tự kỷ gặp phải.

V. Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ ASD

Để nâng cao nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ (ASD) cho giáo viên, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này có thể bao gồm tăng cường đào tạo chuyên môn, cung cấp tài liệu và thông tin dễ tiếp cận, tạo điều kiện cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, và tăng cường sự phối hợp giữa giáo viên, phụ huynh và các chuyên gia.

5.1. Tăng Cường Đào Tạo Chuyên Môn Về Tự Kỷ Cho Giáo Viên

Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu về tự kỷ cho giáo viên, bao gồm cả đào tạo cơ bản và đào tạo nâng cao. Các chương trình đào tạo này nên cung cấp cho giáo viên kiến thức toàn diện về các đặc điểm, nguyên nhân, phương pháp chẩn đoán và can thiệp cho trẻ tự kỷ. Đào tạo cũng nên tập trung vào việc phát triển kỹ năng thực hành cho giáo viên, giúp họ áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả trong lớp học.

5.2. Cung Cấp Tài Liệu Và Thông Tin Dễ Tiếp Cận Về Tự Kỷ

Cần có các kênh thông tin dễ tiếp cận và các tài liệu hướng dẫn về tự kỷ cho giáo viên, chẳng hạn như trang web, sách, tạp chí và video. Các tài liệu này nên được viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu và cung cấp thông tin chính xác, khoa học về tự kỷ. Cần có các buổi hội thảo, hội nghị và các sự kiện khác để giáo viên có thể chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

VI. Ứng Dụng Nghiên Cứu Về Nhận Thức Rối Loạn Phổ Tự Kỷ ASD

Nghiên cứu về nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ (ASD) có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm giáo dục, y tế và xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu có thể giúp cải thiện chất lượng đào tạo cho giáo viên và phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả hơn cho trẻ tự kỷ. Trong lĩnh vực y tế, nghiên cứu có thể giúp cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị cho trẻ tự kỷ. Trong lĩnh vực xã hội, nghiên cứu có thể giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về tự kỷ và giảm kỳ thị đối với người tự kỷ.

6.1. Cải Thiện Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Về Tự Kỷ

Kết quả nghiên cứu về nhận thức của giáo viên về tự kỷ có thể được sử dụng để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp hơn với nhu cầu của giáo viên. Ví dụ, nếu nghiên cứu cho thấy giáo viên còn thiếu kiến thức về một số khía cạnh cụ thể của tự kỷ, chương trình đào tạo có thể tập trung vào việc cung cấp thông tin về các khía cạnh đó.

6.2. Phát Triển Chương Trình Can Thiệp Hiệu Quả Cho Trẻ Tự Kỷ

Nghiên cứu về nhận thức của giáo viên về tự kỷ cũng có thể giúp phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả hơn cho trẻ tự kỷ. Ví dụ, nếu nghiên cứu cho thấy giáo viên có thái độ tích cực đối với việc sử dụng một phương pháp can thiệp cụ thể, phương pháp đó có thể được tích hợp vào chương trình can thiệp.

05/06/2025
Luận văn nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ của giáo viên một số trường chuyên biệt tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VỀ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT 1. Tổ ng quan vấ n đề nghiên cứu Tại Việt Nam, công trình nghiên cứu nhận thức đầu tiên năm 1962 do Phạm Minh Hạc và cộng sự thực hiện về Trí nhớ ở học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Yên Hòa, Từ Liêm, Hà Nội, đây cũng là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên ở nước ta. Những nghiên cứu nhâ ̣n thức về tự kỷ trên thế giới Từ lâu các nhà tâm thần học (Henry Maudsley, 1867) đã chú ý đến các rối loạn tâm thần nặng ở trẻ nhỏ mà lúc đầu thường được gọi là các bệnh loạn thần của trẻ nhỏ.

Thuật ngữ “autism - tự kỷ” do E. Bleuler (1911) đưa ra để chỉ sự mất tiếp xúc với thực tế dẫn tới mất khả năng giao tiếp hay rất khó giao tiếp với người khác. Chứng tự kỷ trẻ nhỏ do Leo Kanner mô tả và đặt tên từ năm 1943 [14]. Sau công bố của Kanner qua bài báo khoa ho ̣c “Rố i loa ̣n tự kỷ trong giao tiế p tình cảm” (Autistic disturbances of affective contact), nhiề u tác giả khác cũng quan tâm đế n rố i loa ̣n này.

Trải qua nhiề u năm, người ta thấ y mức đô ̣ phổ biế n của RLPTK ngày càng tăng [27]. Cùng với viê ̣c các tiêu chuẩ n chẩ n đoán rố i loa ̣n dầ n đươ ̣c cu ̣ thể hóa (khác biê ̣t DSM - IV và DSM - 5). Nhâ ̣n thức về RLPTK là mô ̣t vấ n đề đươ ̣c quan tâm ở nhiề u nước trên thế giới trong bố i cảnh rố i loa ̣n này vẫn là mô ̣t vấ n đề quan tro ̣ng còn nhiề u tranh caĩ. Nhâ ̣n thức về rối loa ̣n phổ tự kỷ (RLPTK) được đề câ ̣p đế n chủ yế u trong các công trình nghiên cứu về tự kỷ (Autism) và giáo du ̣c đă ̣c biê ̣t (Special Education).Campbell thực hiêṇ nghiên cứu trên ho ̣c sinh trung ho ̣c (N=233, M tuổ i = 13,07) về nhâ ̣n thức và thái đô ̣ của ho ̣c sinh khi xem mô ̣t ba ̣n tự kỷ tự giới thiê ̣u về bản thân, kèm theo tờ thông tin có 4 thông điêp.

̣ Kế t quả nghiên cứu cho thấ y ho ̣c sinh nữ thể hiê ̣n thái đô ̣ tích cực hơn ho ̣c sinh nam, ho ̣c 7 sinh có biế t về tự kỷ tỏ thái đô ̣ tích cực hơn ho ̣c sinh không biế t về tự kỷ, tuy nhiên, mức đô ̣ tích cực cũng đươ ̣c tăng lên trong nhóm ho ̣c sinh chưa biế t về tự kỷ sau khi các em xem thêm tờ thông tin mô tả [29]. Tại bang Missisipi, Hoa Kỳ, Khanna K. đã thực hiện nghiên cứu nhận thức và kiến thức về tự kỷ trên các dược sỹ. Kết quả thu được cho thấy Tổng cộng có 147 phản hồi có thể sử dụng (5,8%) đã được nhận.

Kết quả chỉ ra những lỗ hổng trong nhận thức và kiến thức của dược sĩ về tự kỷ. Khoảng 23% dược sĩ không biết rằng tự kỷ là một rối loạn phát triển và 32% không tin rằng di truyền có vai trò chính trong nguyên nhân tự kỷ. Hơn 18% tin rằng vắc-xin có thể gây ra bệnh tự kỷ. Năm 2015, nhóm tác giả LI Xing-yu và LI Li-ya Trường điề u dưỡng, đa ̣i ho ̣c Y khoa Thiên Tân, Trung Quố c đã thực hiê ̣n nghiên cứu Điề u tra về nhận thức tự kỷ của sinh viên đại học ở Thiên Tân.

Nghiên cứu được thực hiện trên 302 sinh viên đa ̣i ho ̣c, trong đó có 73,8% đã đo ̣c hay xem tin tức về tự kỷ cho rằ ng thiếu sự chăm sóc gia đình (78,81%) và chấn thương não (77,81%) là bệnh sinh chủ yếu của chứng tự kỷ, ngoài ra, các trở ngại tâm lý (76,49%) và các rào cản xã hội (79,14%) được coi là triệu chứng chính của chứng tự kỷ [30]. Có thể thấ y, đó là những nhâ ̣n thức chưa phù hơ ̣p về RLPTK của nhóm khách thể sinh viên đa ̣i ho ̣c. Một số đề tài nghiên cứu trên thế giới quan tâm tới nhâ ̣n thức về RLPTK của giáo viên, những người tiế p xúc nhiề u với trẻ và thường xuyên theo dõi tiế n trình phát triể n của trẻ, sau cha me ̣. Nghiên cứu nhâ ̣n thức về tự kỷ của giáo viên trường ho ̣c ta ̣i Oman công bố lần đầu năm 2013, Marwan M Al-Sharbati, Yahya M Al-Farsi, Allal Ouhtit và cô ̣ng sự cho thấ y quan niệm sai lầm về RLPTK đã được phát hiêṇ trong số các giáo viên chính thống trong nước.

Nhóm tác giả cho rằng sự thiếu nhận thức như vậy có khả năng bắt nguồn từ việc hình thành văn hóa xã hội cũng như các quan điểm mâu thuẫn thường được “bàn caĩ ” bởi cộng đồng khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng [32]. 8 Năm 2013, nghiên cứu Nhận thức về tự kỷ của giáo viên tiểu học ta ̣i Pakistan bởi nhóm tác giả thuô ̣c khoa Khoa ho ̣c Sức khỏe Cô ̣ng đồ ng, Đa ̣i ho ̣c Ziauddin cho thấ y chỉ có 9% giáo viên đươ ̣c đào ta ̣o chính thức về tự kỷ qua các hô ̣i thảo, có hơn 62% giáo viên cho rằ ng tự kỷ có thể điề u tri ̣ khỏi và 57% cho rằ ng giáo viên cầ n có sự đào ta ̣o phù hơ ̣p để da ̣y trẻ tự kỷ [34]. Nghiên cứu đươ ̣c thực hiê ̣n ta ̣i Arab Saudi năm 2013 bởi Abdulhade I. Haimour1 và Yahia F.

Obaidat cho biế t giáo viên ở trường phổ thông có nhâ ̣n thức ở mức thấ p về tự kỷ và có sự khác biê ̣t đáng kể giữa các giáo viên khác nhau về chức vu ̣, trình đô ̣ ho ̣c vấ n, thời gian công tác [25]. Stone và Rosenbaum (1988) phát hiện ra rằng các giáo viên có nhâ ̣n thức không chính xác về ho ̣c sinh tự kỷ, đặc biệt là trong lĩnh vực nhận thức, khi so sánh với các chuyên gia tự kỷ. Năm 2016, Liu Y và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trên 417 giáo viên mầm non ở thành phố Quảng Châu và Phật Sơn ở Trung Quốc về kiến thức về sự phát triển của trẻ bình thường, kiến thức, thái độ về RLPTK và tự nhận thức về tính hiệu quả trong việc giáo dục trẻ tự kỷ. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng 84% người tham gia trả lời đúng hơn một nửa số câu hỏi về sự phát triển của trẻ bình thường, ngược lại có 83% trả lời không chính xác hơn một nửa số câu hỏi về RLPTK.

Kiến thức của giáo viên được đánh giá là có sự khác biệt theo vùng, theo trình độ học vấn và loại trường học. Những người tham gia cũng cho rằng cần có thêm nguồn cung cấp và đào tạo chính thức về RLPTK [31]. Nhóm nghiên cứu của Ayub A từ Pakistan trên 73 giáo viên tiểu học cho thấy 71,2% giáo viên cho rằng mình có kiến thức về tự kỷ, với 44,2% cho rằng tự kỷ là một rối loạn thần kinh/tâm thần [24]. Đa số tin rằng giáo dục đặc biệt là một can thiệp hữu ích cho trẻ và yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến kiến thức của giáo viên là tham dự các lớp học hành vi.

Các nghiên cứu nhận thức về RLPTK trên thế giới cho thấy giáo giáo viên có một số hiểu biết về rối loạn này. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số giáo viên còn có những hiểu biết chưa phù hợp về RLPTK. Những nghiên cứu nhâ ̣n thức về tự kỷ ở Viêṭ Nam Tự kỷ đươ ̣c bàn đế n ở Viê ̣t Nam từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX do các nghiên cứu của Nguyễn Khắc Viện và cộng sự trong Trung tâm nghiên cứu trẻ em N-T [18]. Nghiên cứu nhâ ̣n thức về tự kỷ ta ̣i Viê ̣t Nam chưa nhiề u, trong đó có thể kể đế n luâ ̣n văn Tha ̣c si ̃ của Đào Thi ̣ Sâm (2013) nghiên cứu về Khảo sát thái độ của cha me ̣ đố i với con có chứng tự kỷ, có mô ̣t phầ n tìm hiể u về nhâ ̣n thức của cha me ̣ có con tự kỷ.

Trong số khách thể nghiên cứu có 27,9% hiểu sai về khái niệm tự kỷ, 12,6% hiểu sai về biểu hiện của tự kỷ. Họ cho rằng tự kỷ là một chứng bệnh khác, và có 8,1% khách thể cho rằng nguyên nhân của tự kỷ là do ma quỷ ám, mồ mả gia đình bất ổn hay do nghiệp chướng từ kiếp trước. Tác giả cho rằ ng phần lớn khách thể có nhận thức đúng về bản chất tự kỷ nhưng bên cạnh đó có một số người nhận thức sai về tự kỷ [13]. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên của Nguyễn Thị Ngọc Anh, tìm hiểu về Nhận thức của cha mẹ về việc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình ở Hà Nội.

Tác giả quan tâm đến các mức độ nhận biết, hiểu và vận dụng các nội dung và phương pháp giáo dục trẻ tự kỷ của cha mẹ trong gia đình. Đồng thời tác giả cũng quan tâm đến mong muốn, mức độ hài lòng và những khó khăn của cha mẹ trong việc giáo dục con tự kỷ tại nhà. [1] “Nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm cuối các ngành chăm sóc sức khỏe tâm thần” được nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ Tâm lý học Lâm sàng Trẻ em và Vị thành niên của tác giả Trịnh Thanh Hương năm 2014. Tác giả quan tâm đến các nguồn thông tin của sinh viên về tự kỷ, nhận thức của sinh viên về nguyên nhân, biểu hiện, khả năng phát triển, khả năng phục hồi của tự kỷ.

Nghiên cứu này còn tìm hiểu nhận thức của sinh viên về tiêu chí đánh giá, chẩn đoán tự kỷ cũng như một số nhận thức lầm về tự kỷ. Nhìn chung các nghiên cứu nhâ ̣n thức về RLPTK tại Việt Nam còn ít, đặc biệt là các công trình nghiên cứu Nhâ ̣n thức về RLPTK của giáo viên các trường chuyên biê ̣t, là những người trực tiế p làm công tác giáo du ̣c trẻ có RLPTK nói 10 riêng và các khuyế t tâ ̣t phát triể n nói chung. Do đó, chủ để nhâ ̣n thức về RLPTK với khách thể giáo viên trường chuyên biê ̣t cầ n đươ ̣c quan tâm và nghiên cứu nhiề u hơn để nhân cao chấ t lươ ̣ng giáo du ̣c và hỗ trơ ̣ trẻ khuyế t tâ ̣t. Lý luâ ̣n về nhâ ̣n thức về rố i loa ̣n phổ tự kỷ của giáo viên trường chuyên biêṭ 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nhận Thức Về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ Của Giáo Viên Tại Các Trường Chuyên Biệt Ở TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức của giáo viên đối với rối loạn phổ tự kỷ (ASD) trong môi trường giáo dục đặc biệt. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và kiến thức của giáo viên về ASD, từ đó giúp họ có thể hỗ trợ tốt hơn cho học sinh mắc chứng rối loạn này. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm việc hiểu rõ hơn về các phương pháp giảng dạy hiệu quả, cũng như cách thức tương tác với học sinh có nhu cầu đặc biệt.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến giáo dục cho trẻ khuyết tật, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ thực trạng và giải pháp dạy học môn tiếng việt cho trẻ điếc lớp 2 trên địa bàn hà nội, nơi cung cấp các giải pháp dạy học cho trẻ khiếm thính. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số giải pháp nâng cao tính tích cực trong giờ học thể dục cho học sinh khiếm thị trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu thành phố hồ chí minh cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách thức nâng cao sự tham gia của học sinh khuyết tật trong các hoạt động thể chất. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ bạo lực học đường từ góc nhìn của học sinh giáo viên và phụ huynh sẽ cung cấp cái nhìn đa chiều về môi trường học đường, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề trong giáo dục hiện nay.