mở đầu, diễn biến, và kết thúc. Ở con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức con người là một hoạt động có mục đích. Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan. Sự phản ánh đó có thể là thuộc tính bề ngoài hoặc các thuộc tính, quy luật bản chất bên trong của sự vật hiện tượng; nhận thức không chỉ phản ánh thế giới xung quanh mà còn phản ánh chính bản thân con người; không chỉ phản ánh hiện tại mà còn phản ánh cả cái đã qua và cái sẽ tới.
Sản phẩm của hoạt động nhận thức là cơ các hình ảnh, khái niệm, quy luật. về sự vật hiện thượng được nhận thức. Hoạt động này là cơ sở của các hoạt động khác của con người. Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trương, tư tưởng và hành động đúng.
- Nhận thức mang bản chất xã hội, lịch sử: Hoạt động nhận thức bao giờ cũng phải dựa vào tri thức đã có, dựa vào kinh nghiệm của nhân loại đã tích luỹ được, tức là dựa vào kết quả của hoạt động nhận thức mà xã hội loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó. Nhận thức phải sử dụng vốn từ ngữ do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu đạt, khái quát và gìn giữ kết quả hoạt động nhận thức của loài người. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặt khác, quá trình nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội, nghĩa là ý nghĩ của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc do xã hội đặt ra. Nhận thức con người mang tính chất lịch sử, bởi bề rộng của sự khái quát và chiều sâu của việc phát hiện ra bản chất của sự vật hiện tượng được quy định không chỉ do khả năng của cá nhân, mà còn do kết quả của hoạt động nhận thức mà loài người đã đạt được, do kho tàng tri thức có liên quan và trí tuệ của nhân loại.
Như vậy, kiến thức của mỗi người được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân họ, nhưng nội dung và tính chất của kiến thức được quy định bởi trình độ nhận thức chung, tồn tại trong một giai đoạn phát triển xã hội lúc đó. Nhận thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội - lịch sử. Các mức độ nhận thức Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong tâm lý học về mức độ nhận thức. - Theo quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động, nhận thức được xem là một quá trình.
Do quá trình nhận thức ở mỗi người thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức được xem là một hoạt động đặc trưng của con người. Hoạt động nhận thức là một hoạt động tâm lý phức tạp, đa dạng và có nhiều mức độ khác nhau. Căn cứu vào tính chất phản ánh, các nhà tâm lý học chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai mức độ: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. + Nhận thức cảm tính: là mức độ nhận thức đầu tiên, mức độ thấp nhất, trong hoạt động nhận thức của con người.
Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác. Cảm giác là hình thức phản ánh thấp, tri giác là hình thức phản ánh cao hơn trong cùng bậc thang nhận thức cảm tính. Cảm giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chi phối lẫn nhau trong mức độ nhận thức cảm tính về thế giới. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nội dung phản ánh của nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ thể bên ngoài của sự vật, những mối liên hệ và quan hệ về mặt không gian, thời gian chứ chưa phải là những thuộc tính bản chất, bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Phương thức phản ánh trong nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp bằng các giác quan, chứ chưa phải phản ánh gián tiếp, khái quát bằng ngôn ngữ. Sản phẩm của hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể trực quan về thế giới, chứ chưa phải là những khái niệm và quy luật về thế giới. Những đặc điểm trên đây cho thấy nhận thức cảm tính mới chỉ là mức độ nhận thức ban đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người. Nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý con người, nó cung cấp nguyên vật liệu cho các hoạt động tâm lý bậc cao.
+ Nhận thức lý tính: Nhận thức lý tính là mức độ cao hơn nhận thức cảm tính. Nội dung phản ánh của nhận thức lý tính là thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết. Nhận thức lý tính bao gồm 2 quá trình: tư duy và tưởng tượng. Nhận thức lý tính có đặc điểm chung là: thuộc nhận thức cao, có những đặc điểm mới về chất so với nhận thức cảm tính.
Nó mang tính khái quát, gián tiếp. Nhận thức lý tính chỉ nảy sinh trong “hoàn cảnh có vấn đề” nghĩa là khi con người gặp những tình huống, hoàn cảnh mà những kinh nghiệm, vốn kiến thức cũ không giải quyết được. Để nhận thức, con người cần phải vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ và đi tìm những cái mới, mục đích mới. Nhận thức lý tính có khả năng đi sâu vào sự vật, hiện tượng nhằm vạch ra những thuộc tính chung, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật giữa chúng.
Chính nhờ phản ánh cái khái quát, các quy luật mà nhận thức lý tính giúp con người không chỉ nhận thức thế giới mà còn có khả năng cải tạo thế giới. Ở mức độ nhận thức lý tính, con người nhận thức thế giới một cách gián tiếp - nhận thức bằng ngôn ngữ. Nhờ phương tiện ngôn ngữ và khả năng phản ánh khái quát, phản ánh gián tiếp thế giới mà con người có khả năng vạch ra các thuộc tính bản chất, các mối quan hệ 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có tính quy luật, dự đoán được chiều hướng phát triển và diễn biến của chúng để nhận thức và cải tạo chúng. Nhận thức lý tính có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ.
Bởi vì muốn phản ánh được những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng trong thế giới, muốn phản ánh gián tiếp thế giới thì nhận thức lý tính của con người phải sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện. Có thể coi mối quan hệ giữa nhận thức lý tính và ngôn ngữ như mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Quá trình nhận thức lý tính được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành những thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá. Nhận thức lý tính có mối quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính.
Nó là hai mức độ khác nhau của quá trình nhận thức; chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau trong hoạt động nhận thức của con người. Nhận thức cảm tính cung cấp những thông tin ban đầu cho nhận thức lý tính, là cơ sở cho nhận thức cảm tính. Nhận thức cảm tính và lý tính đều nảy sinh từ thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng đắn của nhận thức. - Quan điểm của K.Warner Schaise về mức độ nhận thức: K.
Warner Schaise (1877 – 1978) cho rằng, sự phát triển trí tuệ diễn ra do sự thừa nhận của con người về cái gì là có ý nghĩa và quan trọng trong cuộc đời mình. Năm giai đoạn trong lý thuyết của K. Warner Schaise đã vạch ra cả một loạt những sự chuyển hóa từ “cái gì tôi cần biết” tìm hiểu ý nghĩa và mục tiêu cuối cùng nó dẫn đến “sự thông thái tuổi già”. Những kinh nghiệm cuộc sống thực là những ảnh hưởng quan trọng đến sự tiến bộ này.
Mô hình nhận thức của K. Warner Schaise gồm các giai đoạn sau: 1. Thu nhận (tuổi trẻ em và thiếu niên): các thông tin và kỹ năng học được là do riêng mình, không phải do hoàn cảnh, nó là sự chuẩn bị tham gia vào xã hội. Thành đạt (từ 19 – 20 đến đầu những năm 30 tuổi) con người thu nhận không lâu hơn 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những kiến thức chỉ là cho mình, nhưng sử dụng những gì mà mình biết để trở thành có năng lực độc lập.
Lúc này, họ làm tốt nhiệm vụ phù hợp với mục đích của cuộc sống mà họ đã đặt ra cho mình. Trách nhiệm (cuối những năm 30 đến đầu những năm 40 tuổi): con người có liên quan đến những mục tiêu lâu dài và những vấn đề thực tế của cuộc sống thực mà nó tựa như được liên tưởng với các trách nhiệm của họ với những người khác. Giai đoạn điều hành (30, 40 tuổi cho đến trung niên): con người có trách nhiệm đối với các hệ thống xã hội (như nhà nước, công ty…) nhiều hơn là đối với gia đình, họ cần tích hợp các mối liên hệ phức tạp ở một vài mức độ sau đó. Giai đoạn tích hợp (tuổi già): Những người già cả đã trải qua một số quan hệ xã hội và trách nhiệm, hoạt động nhận thức của họ có thể bị giới hạn bởi những biến đổi sinh học có sự lựa chọn nhiều hơn về những nhiệm vụ mà họ sẽ phải nỗ lực cho chúng.
Ở giai đoạn này con người có suy nghĩ về mục đích của cái mà họ làm và không băn khoăn về những nhiệm vụ không có ý nghĩa với họ.Warner Schaise về nhận thức có hạt nhân hợp lý của nó ở chỗ ông khẳng định kinh nghiệm sống có vai trò quan trọng đối với tư duy của con người. - Quan điểm của Benjamin Bloom về các mức độ nhận thức: B. Bloom và các cộng sự trong cuốn sách “Hệ phân loại các mục tiêu sư phạm, lĩnh vực nhận thức” đã chia nhận thức của con người thành 6 mức độ từ thấp lên cao như sau: + Mức 1: Nhận biết (Knowledge) đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin của cùng một đối tượng nhận thức, ở mức độ này, nhận thức của con người có thể nhắc lại được các sự kiện, định nghĩa các nội dung. + Mức 2: Hiểu (Comprehension) ở mức độ này, có thể thuyết minh, giải thích, chứng minh những kiến thức đã lĩnh hội (phục hồi ngữ nghĩa thông tin 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.