Tổng quan luận án
Vấn đề biển đảo trong lịch sử Việt Nam gắn liền với môi sinh và con đường giao lưu đối ngoại. Quan niệm dân gian "phong tục trên núi xuống, văn minh từ biển vào" phản ánh vai trò của biển như cánh cửa tiếp xúc với các yếu tố bên ngoài. Luận án tiến sĩ lịch sử của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ngọc Thảo (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 62 22 03 11, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2020) tập trung nghiên cứu nhận thức và chính sách hướng biển của chính quyền chúa Nguyễn giai đoạn thế kỷ XVI – XVIII.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ hai lý do học thuật và thực tiễn:
- Về học thuật: Trước đây, trong giới nghiên cứu từng tồn tại nhận định cho rằng cư dân Việt truyền thống chủ yếu "xa rừng nhạt biển", thiếu vắng các hoạt động biển mang tính hệ thống. Bên cạnh đó, các đánh giá về thời kỳ cai trị của các chúa Nguyễn tại xứ Đàng Trong còn tồn tại những góc nhìn khác biệt, có thời kỳ bị đánh giá thiếu khách quan. Luận án đặt mục tiêu phục dựng có hệ thống quá trình chuyển biến từ nhận thức không gian biển đến việc ban hành, thực thi các chính sách kinh tế và an ninh biển của chính quyền Đàng Trong.
- Về thực tiễn: Đề tài gắn với bối cảnh triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW (Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII) về "Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", đồng thời cung cấp các căn cứ lịch sử phục vụ việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông trong bối cảnh tranh chấp khu vực diễn biến phức tạp.
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ quá trình vận động của nhận thức về biển và chính sách hướng biển của các chúa Nguyễn Đàng Trong (thế kỷ XVI – XVIII), cùng vai trò, tác động của hệ thống chính sách này đối với xã hội Đàng Trong và khu vực.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án giải quyết sáu nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phục dựng quá trình nhận thức về biển và chính sách hướng biển của các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVI cho đến hết thế kỷ XVIII.
- Làm rõ tiền đề nhận thức về biển của chúa Nguyễn từ các nhân tố nội tại như vị trí địa chính trị, đặc điểm cư dân và nhu cầu sinh tồn của vùng đất mới.
- Phân tích các điều kiện tác động bên ngoài từ mạng lưới thương mại quốc tế thế kỷ XVI – XVIII, bao gồm bối cảnh "Thời đại thương mại", sự tham gia của các nhóm thương nhân ngoại quốc và chính sách biển của các quốc gia trong khu vực.
- Làm rõ sự kế thừa và bước phát triển trong nhận thức biển của các chúa Nguyễn thông qua hoạt động hướng biển trước thế kỷ XVI và tư duy của các chúa Nguyễn tiêu biểu.
- Khảo sát nội dung chính sách hướng biển của chúa Nguyễn qua thực tế quản lý: từ việc xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đến chính sách khuyến khích thương mại, kiểm soát lưu trú và giao thương hàng hải.
- Đánh giá tác động của nhận thức và chính sách hướng biển đối với Đàng Trong trên các phương diện chính trị – bang giao, kinh tế – xã hội, quân sự, văn hóa – tôn giáo; rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về biển và chính sách hướng biển của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm nghiên cứu từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, mốc khởi đầu từ thời chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến hết thời kỳ trị vì của chúa Nguyễn Phúc Thuần (1777). Giai đoạn trước thế kỷ XVI được khảo sát như tiền đề so sánh. Luận án không đưa giai đoạn chúa Nguyễn Ánh (1777–1802) vào phạm vi nghiên cứu chính do hoàn cảnh 25 năm chiến tranh phân tán với phong trào Tây Sơn.
- Phạm vi không gian: Không gian địa lý – hành chính Đàng Trong từ phía nam sông Gianh trở vào (vùng căn bản Thuận Hóa, Quảng Nam mở rộng đến đồng bằng sông Cửu Long) cùng toàn bộ vùng biển đảo trực thuộc trên Biển Đông, trọng tâm là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm vấn đề:
Thứ nhất, nhóm công trình về bối cảnh thương mại khu vực và quốc tế: Tác giả khảo cứu các công trình nghiên cứu Đông Nam Á của Anthony Reid (Southeast Asia in the Age of Commerce 1450–1680), Nicholas Tarling (The Cambridge History of Southeast Asia), D.G.E. Hall (Lịch sử Đông Nam Á). Mối liên hệ kinh tế khu vực được khảo sát qua các công trình của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN (Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI – XVII, 2007), Hoàng Anh Tuấn (2008, 2016), Nguyễn Văn Kim (1999, nghiên cứu chính sách đóng cửa thời kỳ Tokugawa ở Nhật Bản), Dương Văn Huy (2008, 2011, phân tích ngoại thương Trung Quốc và vai trò của người Hoa). Về sự hiện diện của phương Tây, luận án kế thừa các công trình của Charles Maybon (Những người châu Âu ở nước An Nam, bản dịch của Nguyễn Thừa Hỷ, 2006), Thành Thế Vỹ (1961), Hoàng Thị Anh Đào (2011), Manguin Yves (Những người Bồ Đào Nha trên bờ biển Việt Nam và Chiêm Thành), cùng các nghiên cứu về giáo sĩ của Nguyễn Văn Kiệm (1995), Nguyễn Hồng (2009).
Thứ hai, nhóm nghiên cứu về không gian tự nhiên và xã hội Đàng Trong: Nguồn tư liệu ghi chép địa phương sớm được tiếp cận qua Ô châu cận lục của Dương Văn An (1553). Các công trình nghiên cứu tiến trình lịch sử và vùng đất Nam Bộ của Đào Duy Anh (2007), Nguyễn Quang Ngọc (2001), Phan Huy Lê (2017), Trần Đức Cường cùng nhóm tác giả (2014), Đỗ Quỳnh Nga (2013), Phan Khoang (2001), Cristophoro Borri (1621). Đáng chú ý là các nghiên cứu kinh tế – xã hội chuyên sâu của Li Tana (Đàng Trong – Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, 1999) nhấn mạnh ngoại thương và hải thương giữ vai trò quyết định đối với tốc độ phát triển của chính quyền họ Nguyễn.
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về tư duy và truyền thống biển của người Việt: Tác giả điểm lại các cụm công trình của Nguyễn Văn Kim cùng Nhóm Nghiên cứu Thương mại Châu Á và Trung tâm Biển và Hải đảo (Việt Nam – Truyền thống kinh tế, văn hóa biển, 2014; Vân Đồn – Thương cảng quốc tế của Việt Nam, 2016). Các bằng chứng khảo cổ học biển được ghi nhận qua nghiên cứu của Nguyễn Lân Cường, Hán Văn Khẩn (2008), Hà Văn Tấn (1998), Hà Hữu Nga và Nguyễn Văn Hảo (2002), Nguyễn Kim Dung (2003), Lâm Thị Mỹ Dung và Đặng Hồng Sơn (2017). Khía cạnh văn hóa dân gian ven biển gắn liền với công trình của Ngô Đức Thịnh (2000), Trần Quốc Vượng (1996), Phan Huy Lê và Đỗ Bang (2014), Kawamoto Kuniye (1991).
Thứ tư, nhóm nghiên cứu về xác lập, thực thi chủ quyền biển đảo:
- Giai đoạn trước năm 1975: Tập san Sử Địa số 29 (1974) với các bài viết chuyên khảo của Hoàng Xuân Hãn, Lam Gian, Hãn Nguyên (Nguyễn Nhã), Sơn Hồng Đức, Trần Đăng Đại.
- Giai đoạn sau năm 1975: Các công bố tư liệu lịch sử và pháp lý của Trần Bá Chí (1998), Nguyễn Thừa Hỷ (1998), Nguyễn Nhã (2002, 2008, 2015), Phan Huy Lê và Đỗ Bang (2014, với bài viết của Trần Đại Vinh). Các phát hiện mới của Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn Quân làm rõ tổ chức và chức năng của đội Hoàng Sa hoạt động từ trước năm Tân Mùi (1631) dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên; nghiên cứu của Dương Hà Hiếu (2016) về vai trò của cư dân Cù Lao Ré đối với đội Hoàng Sa.
Khoảng trống học thuật luận án lựa chọn giải quyết là: Tổng hợp một cách chuyên sâu tiến trình chuyển hóa từ nhận thức không gian biển thành hệ thống chính sách hành động cụ thể của chính quyền trung ương; đặt chính sách biển của chúa Nguyễn trong thế đối sánh với chính sách của chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài và các quốc gia Đông Á đương thời; đồng thời phân tích toàn diện tác động đa diện của chính sách này đối với cấu trúc kinh tế, xã hội, quân sự và văn hóa của vùng đất phía Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hai lý thuyết địa chính trị và quan hệ quốc tế làm khung phân tích:
- Lý thuyết Quyết định luận địa lý và Địa chính trị của Robert D. Kaplan (trong tác phẩm Sự minh định của địa lý): Xem xét vai trò của hoàn cảnh không gian tự nhiên đối với cuộc đấu tranh sinh tồn và phân bổ quyền lực chính trị. Luận án sử dụng lý thuyết này để phân tích vị thế địa lý hẹp ngang, áp sát biển của Đàng Trong, giải thích nguyên nhân cấu trúc tự nhiên buộc chính quyền chúa Nguyễn phải lựa chọn hướng biển để tồn tại và phát triển trước sức ép quân sự từ Đàng Ngoài.
- Lý thuyết Sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan (trong tác phẩm Ảnh hưởng của sức mạnh biển đối với lịch sử): Mahan chỉ ra các yếu tố cấu thành sức mạnh biển gồm vị trí địa lý, đặc điểm bờ biển, quy mô dân số, tính chất cư dân và bản chất của chính quyền. Luận án vận dụng quan điểm này để phân tích thực tiễn Đàng Trong: vị thế duyên hải trải dài, truyền thống biển kế thừa từ cư dân bản địa, và vai trò điều hành của các chúa Nguyễn trong việc phát triển thủy quân, thương mại hàng hải và xác lập quyền kiểm soát lãnh hải.
Ngoài ra, luận án kết hợp cách tiếp cận liên ngành sử học với khu vực học, văn hóa học, tôn giáo học và ngôn ngữ học.
Phương pháp nghiên cứu gồm:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực quá trình nhận thức và diễn tiến chính sách biển của chín đời chúa Nguyễn theo trình tự thời gian (lịch đại), từ thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng đến thời chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần.
- Phương pháp logic: Phân tích bản chất, mối liên hệ nhân quả giữa bối cảnh địa kinh tế – chính trị với sự hình thành các quyết sách hướng biển của chính quyền Đàng Trong.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu đồng đại giữa chính sách mở cửa ngoại thương của chúa Nguyễn với chính sách ngoại thương của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài; so sánh với chính sách "Hải cấm" của nhà Minh, nhà Thanh (Trung Quốc) và chính sách "Tỏa quốc" (Sakoku) của Mạc phủ Tokugawa (Nhật Bản).
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và phê phán sử liệu: Thẩm định độ tin cậy của các văn bản Hán Nôm, thư tịch cổ phương Tây và tư liệu điền dã địa phương.
| Nhóm nguồn tư liệu |
Văn bản / Nguồn tài liệu cụ thể |
Giá trị trích xuất thực tế |
| Chính sử và địa chí cổ Việt Nam |
Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên, Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Hải ngoại kỷ sự (Thích Đại Sán). |
Ghi chép về hoạt động cai trị của chín đời chúa Nguyễn; tổ chức điếm tuần thủy bộ, hoạt động đóng thuyền, luyện tập thủy quân; cơ cấu tổ chức và hoạt động thu lượm hóa vật của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải, đội Thanh Châu. |
| Bản đồ cổ |
Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (Đỗ Bá soạn năm 1686), Quảng Thuận đạo sử tập (Nguyễn Huy Quýnh, 1785); Bản đồ Van Langren (1595), G. Mercator (1569), Jodocus Hondius (1606), Bản đồ bờ biển Quảng Nam (1659). |
Minh chứng không gian địa lý, tuyến đường biển từ Quảng Nam đến Phú Yên; vị trí Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa – Trường Sa) thuộc sự kiểm soát của chính quyền chúa Nguyễn; ghi nhận của phương Tây về vùng biển Đàng Trong. |
| Tư liệu địa phương và điền dã |
Đơn từ, văn khế mua bán ruộng đất, kê trình thuế lệ tại phường An Vĩnh và xã An Vĩnh (Quảng Ngãi); di tích khảo cổ, lễ hội dân gian miền duyên hải. |
Cung cấp bằng chứng thực tế về sự đóng góp nhân lực, tài lực của cộng đồng dân cư trong việc gia nhập đội Hoàng Sa thực thi chủ quyền và khai thác kinh tế biển. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này khảo cứu các nhóm tài liệu về bối cảnh khu vực, thế giới và Đàng Trong thế kỷ XVI – XVIII. Tác giả phân tích các nhân tố nội sinh và ngoại sinh thúc đẩy nhận thức hướng biển của các chúa Nguyễn; tổng hợp các kết quả nghiên cứu về tư duy, chính sách và hiệu quả của việc thực thi chính sách biển. Trên cơ sở đó, chương 1 phân định rõ các vấn đề đã được giới học thuật giải quyết và xác lập sáu vấn đề cốt lõi mà luận án tập trung làm sâu sắc hơn.
Chương 2: Nhân tố tác động đến nhận thức và chính sách hướng biển của chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Chương 2 phân tích các yếu tố tiền đề tác động đến quyết sách của các chúa Nguyễn:
- Bối cảnh quốc tế: Thế kỷ XVI – XVIII là "thời đại thương mại" toàn cầu. Đông Nam Á trở thành cầu nối giữa thị trường phương Đông và phương Tây. Tại Đông Bắc Á, Nhật Bản ban hành chế độ Châu ấn thuyền (Shuin-sen) từ năm 1592 dưới thời Toyotomi Hideyoshi và mở rộng thời Mạc phủ Edo (cấp 356 giấy phép trong giai đoạn 1604–1635, trong đó 25% hướng tới các cảng thị Đại Việt) nhằm kiểm soát ngoại thương và tiễu trừ cướp biển Wako. Tại Trung Quốc, chính quyền nhà Minh thi hành "Hải cấm" (1371–1567), sau đó nhà Thanh áp dụng chính sách cấm biển triệt để (1661–1684, buộc dân ven biển dời vào nội địa) trước khi bãi bỏ vào năm 1684. Những biến động này tạo cơ hội cho Đàng Trong đón nhận các luồng thương thuyền chuyển hướng.
- Nhóm thương nhân phương Tây: Người Bồ Đào Nha thiết lập quan hệ sớm, hỗ trợ chúa Nguyễn xây dựng xưởng đúc súng đại bác tại Phường Đúc (Phú Xuân) do Jean de La Croix phụ trách kỹ thuật. Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) cố gắng tiếp cận từ năm 1601 qua cuộc hội kiến chúa Nguyễn Hoàng, sau đó ký hiệp ước hòa bình ngày 9 tháng 12 năm 1651 dưới thời Nguyễn Phúc Tần nhưng nhanh chóng đổ vỡ do nghi kỵ chính trị. Thương nhân Anh (năm 1613, mang thư của vua James I cùng 720 bảng Anh) và Pháp (năm 1749 với chuyến đi của Poivre) đều tìm cách thâm nhập nhưng mức độ hiện diện hạn chế.
- Yếu tố địa chính trị nội tại: Địa hình Đàng Trong hẹp ngang, núi ăn sát biển, sông ngắn dốc, không thể duy trì nền kinh tế hoàn toàn dựa vào nông nghiệp. Nhu cầu tồn tại trước áp lực quân sự từ họ Trịnh ở Đàng Ngoài buộc các chúa Nguyễn phải mở cửa hướng biển, khai thác sản vật tự nhiên (yến sào, trầm hương, hồ tiêu, tơ tằm) và thu hút thương nhân quốc tế. Vai trò quyết định thuộc về tầm nhìn cởi mở của các chúa Nguyễn đầu triều, tiêu biểu là Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên.
Chương 3: Nhận thức về biển của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVI - XVIII
Chương 3 tái hiện sự vận động nhận thức qua các giai đoạn:
- Tiền đề lịch sử: Tiếp nối nhận thức biển từ thời tiền sử qua các di chỉ văn hóa Soi Nhụ, Cái Bèo, Hạ Long ở miền Bắc; văn hóa Bàu Dũ, Bàu Tró, Sa Huỳnh ở miền Trung; và truyền thống sông biển của vương quốc cổ Phù Nam, Chămpa ở miền Nam.
- Quá trình chuyển biến thời chúa Nguyễn: Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đặt nền tảng tư duy hướng biển khi nhận diện không gian Thuận – Quảng có lợi thế "tựa sơn hướng hải", chủ động thiết lập trật tự an ninh biển (tiễu trừ hải tặc Tây Dương tại Cửa Việt, trấn dẹp giặc biển Yên Quảng). Các chúa kế nhiệm tiếp tục thể chế hóa nhận thức này: nhận thức rõ giá trị nguồn hàng thương phẩm bản địa; biến Hội An thành cảng thị trung chuyển quốc tế nối mạng lưới buôn bán tơ lụa, gốm sứ giữa Nhật Bản và Trung Quốc; đồng thời tiếp nhận và bảo trợ các hình thức tín ngưỡng biển của cư dân duyên hải.
Chương 4: Chính sách hướng biển của các chúa Nguyễn Đàng Trong thế kỷ XVI – XVIII
Chương 4 khảo sát hai nhóm chính sách lớn được thực thi trên thực tế:
- Chính sách khuyến khích thương mại và giao thương biển: Ban hành biểu thuế tàu thuyền, thuế xuất nhập khẩu hàng hóa rõ ràng; quy định thủ tục lưu trú, bảo đảm an ninh cho các thương điếm nước ngoài; cho phép người Hoa lập làng Minh Hương và người Nhật lập phố Nhật Bản tại Hội An để tự quản lý sinh hoạt cộng đồng.
- Chính sách quản lý, khai thác tài nguyên và bảo vệ chủ quyền: Tổ chức các đội chuyên trách của nhà nước kết hợp nhiệm vụ kinh tế và chủ quyền. Đội Hoàng Sa (hoạt động từ trước năm 1631) và đội Bắc Hải (do đội Hoàng Sa kiêm quản) được giao nhiệm vụ hàng năm đi thuyền ra bãi cát Biển Đông trong 6 tháng để thu lượm vũ khí, kim loại, hải sản quý từ các tàu đắm, đồng thời tiến hành đo đạc luồng lạch. Song song đó, nhà nước duy trì hệ thống điếm tuần thủy bộ, tổ chức tuần tiễu bờ biển, đẩy mạnh hoạt động đánh bắt hải sản của ngư dân và chủ động đánh dẹp các nhóm cướp biển ngoại quốc để bảo đảm an ninh hàng hải.
Chương 5: Một số nhận xét về chính sách hướng biển của chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVI – XVIII
Chương 5 đánh giá hiệu quả tác động của chính sách trên các lĩnh vực:
- Về chính trị – bang giao: Chính sách biển cởi mở giúp Đàng Trong xác lập vị thế độc lập đối trọng với Đàng Ngoài; thiết lập quan hệ ngoại giao mềm dẻo thông qua thư từ trao đổi với chính quyền Mạc phủ Nhật Bản và các công ty thương mại phương Tây.
- Về kinh tế – xã hội: Hải thương thúc đẩy sự hưng khởi của hệ thống cảng thị (Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn), kích thích kinh tế hàng hóa nội địa, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông sản và thủ công nghiệp xuất khẩu.
- Về quân sự: Nhập khẩu vũ khí hiện đại (đại bác, súng hỏa mai), kim loại đúc tiền và thuốc súng từ Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật Bản; xây dựng lực lượng thủy quân thiện chiến với hệ thống thuyền chiến cơ động, đảm bảo khả năng phòng thủ bờ biển và kiểm soát quần đảo ngoài khơi.
- Về văn hóa – tôn giáo: Tạo điều kiện cho sự du nhập của Kitô giáo, giao lưu văn hóa Đông – Tây và quá trình hình thành chữ Quốc ngữ; dung hợp các yếu tố văn hóa tín ngưỡng biển của người Chăm vào đời sống tinh thần của cư dân người Việt.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới sau:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa quá trình phát triển tư duy biển của dân tộc, chứng minh rằng nhận thức hướng biển thời chúa Nguyễn không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà là bước phát triển kế thừa có chọn lọc từ cơ tầng văn hóa biển bản địa, được thúc đẩy bởi sức ép địa chính trị và làn sóng thương mại quốc tế. Luận án giải mã mô hình phát triển mở cửa của thể chế chính quyền Đàng Trong trong thế đối sánh với tính chất nông nghiệp khép kín của Đàng Ngoài.
- Về mặt thực tiễn và tư liệu: Phục dựng bức tranh hoàn chỉnh về tổ chức và cơ chế hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, Thanh Châu. Khai thác hệ thống chứng cứ lịch sử và pháp lý từ thư tịch cổ (Đại Nam thực lục tiền biên, Phủ biên tạp lục), bản đồ (Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư) và văn bạ địa phương (xã An Vĩnh), khẳng định quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của nhà nước phong kiến Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa diễn ra liên tục, hòa bình và có tổ chức quy củ từ thế kỷ XVII.
- Đề xuất bài học kinh nghiệm: Đúc kết các bài học lịch sử có giá trị thực tiễn cho công tác quản lý biển hiện nay: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng – an ninh; duy trì chính sách đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt; phát huy nguồn lực của cộng đồng dân cư duyên hải trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài vào nửa cuối thế kỷ XVIII (chiến tranh Tây Sơn), hệ thống văn thư hành chính, chỉ dụ gốc của các chúa Nguyễn bị thất lạc hoặc tiêu hủy phần lớn. Luận án chủ yếu phải dựa vào việc phục dựng chính sách thông qua các ghi chép gián tiếp từ chính sử triều Nguyễn biên soạn sau này, địa chí của học giả thời Lê – Trịnh và hồi ký của người nước ngoài. Bên cạnh đó, luận án chưa đi sâu khảo sát giai đoạn 1777–1802 dưới thời Nguyễn Ánh do tính chất biến động quân sự đặc thù.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục tìm kiếm, khai thác có hệ thống các văn bản lưu trữ hàng hải từ các công ty Đông Ấn (VOC của Hà Lan, EIC của Anh) và tài liệu truyền giáo lưu trữ tại Bồ Đào Nha, Pháp, Vatican; kết hợp với các phát hiện mới từ khảo cổ học dưới nước tại các vùng biển duyên hải miền Trung và vịnh Thái Lan.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Lịch sử, Quan hệ quốc tế, Việt Nam học: Cung cấp khung dữ liệu và phương pháp tiếp cận liên ngành giữa sử học và địa chính trị trong nghiên cứu lịch sử kinh tế – đối ngoại.
- Giảng viên đại học: Sử dụng trực tiếp trong giảng dạy các học phần Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Lịch sử thương mại biển và Lịch sử chủ quyền biển đảo.
- Các cơ quan nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách: Khai thác chương 4 và chương 5 để làm tư liệu minh chứng lịch sử bảo vệ chủ quyền Biển Đông, đồng thời rút ra các tiền đề lịch sử phục vụ xây dựng chính sách phát triển kinh tế biển bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Động lực chính nào thúc đẩy các chúa Nguyễn chuyển hướng phát triển mạnh sang kinh tế biển?
Động lực bao gồm yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Về nội sinh, địa hình Đàng Trong hẹp ngang, đồng bằng nhỏ, đất đai kém màu mỡ so với Đàng Ngoài, không thể chỉ dựa vào nông nghiệp; sức ép quân sự từ chúa Trịnh buộc chúa Nguyễn phải mở cửa biển để tìm nguồn tài chính, nhập khẩu vũ khí (đại bác, diêm tiêu) và kim loại. Về ngoại sinh, Đàng Trong tọa lạc trên tuyến hải thương sôi động của "thời đại thương mại" thế kỷ XVI – XVIII, đón bắt luồng thương thuyền quốc tế khi các nước lân cận (Trung Quốc, Nhật Bản) áp dụng các biện pháp kiểm soát biển.
2. Đội Hoàng Sa được thành lập trong khoảng thời gian nào và giữ chức năng gì?
Theo các cứ liệu lịch sử được luận án phân tích (tiêu biểu là nghiên cứu của Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn Quân), đội Hoàng Sa được thành lập từ trước năm Tân Mùi (1631) dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Đội có chức năng kép: vừa thực thi quyền quản lý lãnh thổ nhà nước trên các đảo, vừa tiến hành hoạt động kinh tế (thu lượm hóa vật, súng đạn, vàng bạc từ tàu đắm, đánh bắt hải sản quý và đo đạc luồng lạch trên Biển Đông).
3. Vì sao chính sách "Châu ấn thuyền" của Nhật Bản lại tác động tích cực đến ngoại thương Đàng Trong?
Chế độ Châu ấn thuyền (Shuin-sen) do chính quyền Nhật Bản áp dụng (1592–1635) nhằm kiểm soát thuyền buôn và ngăn chặn nạn cướp biển Wako. Trong 356 giấy phép được Mạc phủ cấp ra, có tới 25% hướng đến các thương cảng của Đại Việt, đặc biệt là Hội An. Thuyền buôn Nhật Bản mang bạc và đồng đến Đàng Trong để mua tơ tằm, hồ tiêu và hàng hóa trung chuyển từ Trung Quốc, tạo nên giai đoạn phồn vinh cho đô thị thương cảng Hội An.
4. Mối quan hệ giữa chúa Nguyễn với Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) diễn ra như thế nào?
Mối quan hệ này diễn biến phức tạp và đứt đoạn. Năm 1601, VOC tìm cách giao thương nhưng không đạt kết quả khả quan và phát sinh xung đột. Đến thập niên 1640, do VOC liên minh quân sự với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn đã giao chiến với tàu Hà Lan. Ngày 9 tháng 12 năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần ký hiệp ước hòa bình với đại diện VOC từ Batavia, nhưng quan hệ sớm đổ vỡ do chúa Nguyễn nghi ngờ tàu Hà Lan chứa chấp sứ thần Đàng Ngoài, dẫn đến việc Batavia tuyên bố phong tỏa và chấm dứt giao thương chính thức vào nửa sau thế kỷ XVII.
5. Luận án sử dụng các chứng cứ bản đồ cổ nào để chứng minh chủ quyền biển đảo của chúa Nguyễn?
Luận án dẫn chứng tập bản đồ Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá soạn năm 1686 (ghi nhận việc chúa Nguyễn hàng năm cử thuyền ra Bãi Cát Vàng thu lượm sản vật); Quảng Thuận đạo sử tập của Nguyễn Huy Quýnh (1785); cùng các bản đồ phương Tây như bản đồ của anh em nhà Van Langren (1595), G. Mercator (1569), Jodocus Hondius (1606) và bản đồ bờ biển Quảng Nam năm 1659 do Thủ tướng Hà Lan trao tặng Việt Nam năm 2011, đều thể hiện lãnh thổ và lãnh hải Đàng Trong bao gồm quần đảo Hoàng Sa.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ngọc Thảo là công trình khoa học chuyên khảo phục dựng có hệ thống quá trình xác lập nhận thức và thực thi chính sách hướng biển của chính quyền chúa Nguyễn tại Đàng Trong thế kỷ XVI – XVIII. Nghiên cứu chứng minh sự kết hợp chặt chẽ giữa mở cửa giao thương hàng hải quốc tế với quản lý, khai thác tài nguyên và bảo vệ chủ quyền biển đảo của nhà nước phong kiến phương Nam. Các kết quả trích xuất từ tư liệu Hán Nôm, thư tịch phương Tây và khảo sát điền dã trong luận án mang lại giá trị học thuật đối với lịch sử Việt Nam trung đại, đồng thời cung cấp căn cứ lịch sử phục vụ công tác nghiên cứu chiến lược biển hiện nay.