CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI 1. Sự ra đời của chương trình nhãn sinh thái trên thế giới 1. Khái niệm về nhãn sinh thái Nhãn sinh thái là một thuật ngữ không mới đối với những người nghiên cứu kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế môi trường. Tuy nhiên, xét về định nghĩa chính xác nhãn sinh thái là gì, hiện tại vẫn chưa có lý thuyết nào được xây dựng để đưa ra định nghĩa chính xác và thống nhất cho thuật ngữ này.
Nhãn sinh thái là một từ ghép gồm hai từ đơn là “nhãn” và “sinh thái”. “Nhãn” trong cụm từ này biểu thị về nhãn mác, dấu hiệu, có thể là ký tự hoặc hình ảnh, được sử dụng để phân biệt vật này với vật khác. “Sinh thái” có từ gốc trong tiếng Hy Lạp là “oikos” mang hai ý nghĩa. Với nghĩa hẹp, đây là từ để chỉ địa điểm là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống.
Với nghĩa rộng hơn, đây là từ dùng để chỉ sự tồn tại sự sống nói chung. Tuy nhiên, một trong những đặc trưng cơ bản nhất của sự sống là qua trình trao đổi chất thường xuyên giữa cá thể sống và môi trường xung quanh, do đó, trong nghiên cứu có thể hiểu “sinh thái” theo nghĩa rộng là mối quan hệ giữa cơ thể sống và môi trường xung quanh (Phạm Văn Boong, 2002). Thông qua việc ghép hai khái niệm về “nhãn” và “sinh thái”, “nhãn sinh thái” về mặt khái niệm là một dấu hiệu chỉ ra sự khác biệt về ý nghĩ môi trường giữa vật được gắn nhãn và vật không được gắn nhãn. Hay nói cách khác, nhãn sinh thái là công cụ để người tiêu dùng có thể nhận biết mức độ môi trường của sản phẩm mình đang sử dụng.
Với nội dung như vậy, nhãn sinh thái có rất nhiều từ đồng nghĩa như nhãn xanh, nhãn môi trường. Tác giả tiến hành phân tích một số khái niệm để thấy sự thống nhất về khái niệm nhãn sinh thái. Khái niệm đầu tiên là khái niệm “nhãn môi trường - Environmental Performance Labels” của tổ chức Tiêu chuẩn Đo lường Quốc tế ISO. Nhãn môi trường được ISO 14000 định nghĩa là sự khẳng định, biểu thị thuộc tính môi trường của sản phẩm, dịch vụ.
Chúng được thể hiện dưới hình thức ký tự hoặc đồ họa. Chúng có thể được chứng nhận bởi bên thứ ba độc lập hoặc do chính nhà sản xuất hoặc Luan van 8 nhà cung cấp dịch vụ đưa ra. Do vậy, nhãn môi trường của ISO 14000 sẽ được chia ra làm nhiều phân loại khác nhau và sẽ được phân tích cụ thể trong phần kế tiếp. Một định nghĩa khác của nhãn sinh thái đến từ Ngân hàng Thế giới.
Ngân hàng Thế giới sử dụng thuật ngữ “nhãn sinh thái- Ecolabels” với ý nghĩa là nhãn cung cấp thông tin về các tác động môi trường liên quan đến việc sản xuất, sử dụng sản phẩm. Nhãn môi trường thường được áp dụng môt cách tự nguyện nhưng cũng có thể là bắt buộc trong những trường hợp nhất định (Ahmed. Như vậy, điểm khác biệt chủ yếu giữa định nghĩa của ISO 14000 và Ngân hàng Thế giới là việc đưa nhãn sinh thái vào áp dụng theo chế độ nào. ISO 14000 chỉ đưa ra nhãn sinh thái như một chương trình tự nguyện của cả chính phủ, người sản xuất - cung cấp dịch vụ, người tiêu dùng.
Đối với Ngân hàng Thế giới, nhãn sinh thái còn có thể được áp dụng một cách bắt buộc như một công cụ chính sách đảm bảo phát triển bền vững. Nhãn năng lượng cho sản phẩm ô tô ở Ấn Độ là một trong những nhãn sinh thái mang tính bắt buộc theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới. Khái niệm nhãn sinh thái khác mà chúng ta cần phân tích thêm là khái niệm về nhãn sinh thái của GEN - Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (Global Ecolabelling Network). Theo GEN, về cơ bản, một nhãn sinh thái là một nhãn hiệu trong đó xác định ưu tiên môi trường một cách tổng thể của một sản phẩm hay dịch vụ trong một nhóm sản phẩm xác định dựa trên những chỉ tiêu trong toàn bộ chu kỳ cuộc sống của nó.
Nhãn sinh thái, theo GEN, mang tính chất tự nguyện, và phải được trao bởi một bên thứ ba độc lập cho các sản phẩm đáp ứng tiêu chí môi trường được thành lập bởi tổ chức đó. Do vậy, nhãn sinh thái của GEN được coi như là một loại nhãn thuộc nhóm Nhãn môi trường kiểu I trong ISO 14000. GEN xác định rõ ràng rằng nhãn sinh thái chỉ chứng nhận cho sản phẩm và đề cập cụ thể đến việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về chất lượng môi trường tương đối của sản phẩm đó chứ không phải là một chứng nhận cho nhà sản xuất. Điều này có nghĩa là một sản phẩm - dịch vụ của nhà sản xuất - cung cấp dịch vụ được chứng nhận nhãn sinh thái sẽ không thể hiện cho việc toàn bộ các sản phẩm - dịch vụ của nhà sản xuất - cung cấp dịch vụ đó đều được chứng nhận nhãn sinh thái.
Luan van 9 Sau khi phân tích các định nghĩa của ISO 14000, của Ngân hàng Thế giới, và của GEN, tác giả nhận định định nghĩa về nhãn môi trường của ISO 14000 là định nghĩa tổng quát nhất đối với nội dung của nhãn sinh thái. Các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và GEN mang tính bổ sung và làm chi tiết cho một số khía cạnh của nhãn sinh thái. Do vậy, trong luận văn này, nhãn sinh thái sẽ được sử dụng theo khái niệm như sau: Nhãn sinh thái là tổ hợp ký tự hoặc đồ họa biểu thị thuộc tính môi trường của sản phầm hay dịch vụ mang nhãn. Thuộc tính môi trường ở đây chỉ hiệu ứng tích cực đến môi trường trong quá trình sản xuất và tiêu dùng hàng hóa gắn nhãn so với những hàng hóa không gắn nhãn.
Tính tất yếu của sự ra đời nhãn sinh thái Từ việc phân tích khái niệm nhãn sinh thái ở phần trên, chúng ta đều hiểu rằng nhãn sinh thái có thể do nhà sản xuất tự công bố hay được các tổ chức khác tiến hành chứng nhận. Như vậy, lý do từ đâu mà nhà sản xuất có động cơ để tiến hành các chứng nhận đó? Theo quy luật cung cầu, khi cầu các sản phẩm có ý nghĩa sinh thái nảy sinh và lớn mạnh, khiến cho nguồn cung có cơ hội phát triển. Từ đó thúc đẩy các nhà sản xuất nâng cao ý thức sinh thái trong việc cung cấp các sản phẩm của mình. Vậy cầu này xuất phát từ đâu thì đó chính là cơ sở cho việc ra đời của các chứng nhận sinh thái hay có thể coi là nhãn sinh thái.
Cầu các sản phẩm sinh thái dựa trên sự hình thành ý thức sinh thái trong tiêu dùng mà trong đó y thức sinh thái được hình thành từ ba nguyên lý của triết học Mác – Lênin (Triệu Thị Hải Hiền, 2004). Sau quá trình công nghiệp hóa, khủng hoảng sinh thái đã trở thành một trong những nguy cơ nặng nề đe dọa đến cuộc sống của con người và sự tồn tại của xã hội. Các nguyên lý cơ bản trong triết học Mác - Lênin bao gồm nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, nguyên lý về quy định giữa trình độ phát triển xã hội đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, nguyên lý về vai trò chủ thể tích cực của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là ba căn cứ hình thành nên ý thức sinh thái của con người hiện tại. Nguyên lý về tính thống nhất chỉ ra sự thống nhất vật chất giữa con người, tự nhiên và xã hội.
Ba thành tố này liên lạc chặt chẽ, thống nhất với nhau và tác động lẫn nhau. Nguyên lý về trình độ phát triển chỉ ra Luan van 10 rằng phát triển càng cao, con người càng đề cao những mối quan tâm liên quan đến tự nhiên, đến môi trường. Điều này diễn ra khi các nhu cầu phần con của con người được thỏa mãn, con người sẽ suy nghĩ đến những vấn đề phần người như các tác động con người đã gây ra cho môi trường xung quanh. Nguyên lý thứ ba về vai trò của con người chỉ ra rằng con người có thể có vai trò thay đổi tích cựu hoặc tiêu cực trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
Thông qua ba nguyên lý, triết học Mác - Lênin chỉ ra việc phát triển của con người sẽ dẫn đến sự nhận thức, đồng thời sinh ra những hành động có tác động tích cực đến môi trường được gọi là ý thức sinh thái. Vì ý thức sinh thái, con người sẽ phải sản xuất khác đi. Các tiến bộ khoa học công nghệ ra đời góp phần tạo thuận lợi cho sự sản xuất khác đi đó. Khoa học cung cấp cho con người những tri thức cần thiết về sinh thái, về những ảnh hưởng đã đang và sẽ xảy ra khi con người loại trừ yếu tố môi trường ra khỏi sản xuất và tiêu dùng.
Khoa học cũng đồng thời là công cụ để tuyên truyền, giáo dục con người nhận ra những thiệt hại môi trường và đồng thời cung cấp công cụ để có thể thay đổi hành vi, nhằm sản xuất và tiêu dùng sinh thái hơn. Khoa học công nghệ được coi là thành phần nuôi dưỡng cho ý thức sinh thái của con người phát triển và được truyền bá rộng rãi hơn, cũng như là nhân tố để hiện thực hóa ý thức sinh thái thành các hành động cụ thể. Khi ý thức sinh thái phát triển đủ mạnh, nhu cầu về các sản phẩm phù hợp ý thức sinh thái xuất hiện, chất lượng môi trường trở thành một hàng hóa mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả, người tiêu dùng sẽ cần một dấu hiệu để xác nhận về hàm lượng môi trường của từng sản phẩm. Từ nhu cầu đó, nhãn sinh thái được ra đời.
Tiền thân của nhãn sinh thái chỉ là những tuyên bố đơn phương của nhà sản xuất về việc sản phẩm phù hợp với ý thức sinh thái của cộng đồng tiêu dùng. Nhu cầu xác nhận những tuyên bố này này sinh khi quá nhiều tuyên bố chủ quan được đưa ra. Người tiêu dùng cần những xác nhận khách quan về chất lượng sản phẩm, nhãn sinh thái của các chứng nhận thứ ba giành được sự tin tưởng và ủng hộ hơn từ cộng đồng.