phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Tín dụng – Tăng trƣởng tín dụng và các nhân tố ảnh hƣởng. Chƣơng 2: Thực trạng tăng trƣởng tín dụng nền kinh tế và tác động của các nhân tố đến tăng trƣởng tín dụng giai đoạn 2005-2013. Chƣơng 3: Xây dựng mô hình kinh tế lƣợng đo lƣờng tác động của các nhân tố đến tăng trƣởng tín dụng hệ thống ngân hàng. Chương 4: Một số kiến nghị nâng cao hoạt động tín dụng hệ thống ngân hàng.
4 CHƢƠNG 1 TÍN DỤNG – TĂNG TRƢỞNG TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG 1. TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ 1. Lý thuyết về Quỹ cho vay Lý thuyết quỹ cho vay đƣợc nghiên cứu trên nền tảng chính gồm 2 mảng là cung – cầu quỹ cho vay của các doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ. Cầu quỹ cho vay bao gồm nhiều thành phần và bắt nguồn từ tất cả các khu vực của nền kinh tế: Các doanh nghiệp (số dƣ hàng tồn kho và đầu tƣ tài sản cố định…), hộ gia đình (tiêu dùng, kinh doanh hộ gia đình) và chính quyền (thuế, chi tiêu ngân sách…) Về cung quỹ cho vay, phản ánh khối lƣợng tiết kiệm (dân cƣ, doanh nghiệp, chính quyền…) và số lƣợng tiền mới đƣợc tạo ra.
Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống tài chính là phân phối quỹ cho vay từ các đơn vị thặng dƣ tiết kiệm sang tay các đơn vị thiếu hụt tiết kiệm. Có ba phƣơng pháp phân phối quỹ cho vay gồm: giao dịch trực tiếp, thông qua nhà môi giới và phƣơng pháp giao dịch gián tiếp – thông qua hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính. Trên thực tế, hoạt động ngân hàng chiếm đến trên 70% hoạt động của thị trƣờng tài chính và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phân phối quỹ cho vay trong nền kinh tế. Và hoạt động tín dụng trong ngân hàng cũng mang đến 70% lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Lý thuyết về tín dụng Lịch sử phát triển cho thấy tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa. Khi quá trình tự cung tự cấp bị đào thải và phát triển nền kinh tế nhƣ hiện nay. Quá trình tự cung tự cấp không còn cũng là lúc sự trao đổi hàng hóa xuất hiện và tín dụng ra đời. Nó là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển lên các giai đoạn cao hơn.
Thuật ngữ tín dụng đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến, tín dụng (Credit) trong thực tế đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuy nhiên trong một mối quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. 5 Tiếp cận với vai trò là một chức năng cơ bản trong hoạt động ngân hàng, tín dụng đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Từ khái niệm trên, ta có thể thấy tín dụng có các đặc trƣng sau: Có sự vận động tƣơng đối độc lập giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng gồm hai hình thức: Cho vay và cho thuê (đƣợc biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa) Giao dịch trên cơ sở tin tƣởng và có hoàn trả, giá trị hoàn trả thông thƣờng lớn hơn giá trị cho vay ban đầu Với quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện Về cấp tín dụng, theo Luật các TCTD, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lƣu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng. Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lƣu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán. Vai trò của tín dụng 1.
Đảm bảo nhu cầu về vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng trong nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển kinh tế Hoạt động tín dụng của NH – với vai trò là một trung gian tài chính đã và đang thực hiện tốt chức năng điều hòa vốn trong nền kinh tế. Tạo điều kiện bổ sung nguồn vốn cần thiết kịp thời cho hoạt động SXKD và tiêu dùng diễn ra thƣờng xuyên, liên tục. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, vốn tín dụng, bên cạnh vốn tự có, vốn khác - là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lƣu động, vốn cố định của DN, đƣa vật tƣ hàng hóa vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. Trong tiêu dùng, tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ.
Nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phƣơng tiện đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tƣ phát triển. Thúc đẩy quá trình tập trung và phân bổ vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, góp phần tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chƣa sử dụng, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế. Vốn đƣợc tập trung và phân bổ một cách hiệu quả cho các chủ thể có nhu cầu, với các sản phẩm tín dụng, phía ngân hàng sẽ thu đƣợc một khoản lãi/ phí, ngƣợc lại ngƣời đi vay cần chi trả một khoản tiền nhất định. Đây là chi phí cho việc sử dụng vốn, điều này thúc đẩy ngƣời sử dụng điều tiết hành vi sao cho một đồng vốn đi vay mang lại hiệu quả cao nhất, ít nhất là đủ bù đắp chi phí.
Là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống ngân hàng là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà nƣớc muốn tăng khối lƣợng tiền cung ứng thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng của các ngân hàng đối với nền kinh tế và ngƣợc lại. Do vậy thông qua hình thức tín dụng, NHNN có thể kiểm soát đƣợc khối lƣợng tiền cung ứng trong lƣu thông. Bên cạnh đó, thông qua các văn bản pháp luật, các quy định, Chính Phủ và NHNN có thể điều tiết nền kinh tế, đảm bảo tăng trƣởng bền vững, cân đối cơ cấu kinh tế, điều tiết hành vi của ngƣời tiêu dùng và các tổ chức.
Công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế Bản chất của tín dụng là cho vay dựa trên cơ sở có hoàn trả, do đó có thể thấy, đây là một công cụ tài trợ tài chính và các dịch vụ ngân hàng cho các ngành kinh tế, các đồi tƣợng khách hàng. Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần hợp tác phát triển kinh tế xuyên quốc gia 1. Tăng cường chế độ hạch toán kế toán Đặc trƣng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả. Bằng cách tác động nhƣ vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp 1.
Mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho hoạt động kinh doanh ngân hàng Hoạt động kinh doanh ngân hàng mục tiêu cuối cùng là tạo ra lợi nhuận và gia tăng tối đa giá trị ngân hàng. Trong hai nghiệp vụ chính yếu, hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu đến trên 70% toàn lợi nhuận ngân hàng. Do đó, hoạt động tín dụng luôn đƣợc đặc biệt quan tâm và nằm trong định hƣớng phát triển của ngân hàng trong mọi thời kỳ. TĂNG TRƢỞNG TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA TĂNG TRƢỞNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1.
Tăng trƣởng tín dụng Tín dụng và hiệu quả tín dụng sẽ đƣợc đánh giá thông qua số lƣợng và chất lƣợng tín dụng. Thông thƣờng các nhà phân tích thƣờng chú ý đến một số tiêu chí, chỉ tiêu sau: Tốc độ tăng trưởng dư nợ – Chỉ tiêu chính yếu nhất đánh giá tăng trƣởng tín dụng về số lƣợng: là chỉ số đánh giá mức độ tăng trƣởng dƣ nợ của hệ thống các tổ chức TD nói chung, đồng thời phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Tốc độ tăng trƣởng dƣ nợ = Tổng dƣ nợ kỳ (i+1)/ Tổng dƣ nợ kỳ i Tỷ lệ dư nợ trên tổng vốn huy động: là chỉ số xác định hiệu quả đầu tƣ của một đồng vốn huy động. Tỷ lệ dƣ nợ trên tổng vốn huy động = Tổng dƣ nợ/Vốn huy động Tỷ lệ nợ quá hạn: là chỉ số đo lƣờng chất lƣợng tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại.
Chỉ số này thấp thể hiện chất lƣợng tín dụng cao, rủi ro tín dụng thấp và ngƣợc lại.