Chương I, từ Điều 2 đến Điều 11 bao gồm các nguyên tắc: Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Nguyên tắc tuân thủ pháp luật; Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản; Nguyê tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; Nguyên tắc bình đăng; Nguyên tắc thiện chí, trung thực; Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự; Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp; Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền nhân thân; Nguyên tắc hòa giải trong quan hệ dân sự. Bộ luật Dân sự năm 2005 là sự sửa đổi tất yếu để phù hợp hơn với hoàn cảnh kinh tế, chính trị của nước ta giai đoạn này. Bộ luật Dân sự năm 2005 đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định 9 nguyên tắc cơ bản, đó là sự sắp xếp lại các quy định từ Điều 2 đến Điều 12 của Bộ luật Dân sự năm 1995 theo hướng nhắn mạnh và ưu tiên đưa các nguyên tắc cơ bản có tính chất đặc thù của quan hệ dân sự lên trên, đặc biệt là các nguyên tắc về quyền tự do, tự nguyên cam kết thỏa thuận giữa các bên, nguyên tắc bình đăng, thiện chí, trung thực và tự chịu trách nhiệm dân sự và tự chịu trách nhiệm dân sự, đồng thời sắp xếp một số nguyên tắc không phải là điển hình trong quan hệ dân sự xuống dưới như nguyên tắc tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
Về cơ bản nội dung của các nguyên tắc vẫn được kế thừa các nội dung tương ứng của Bộ luật Dân sự năm 1995 và có chỉnh sửa 17 các thê hiện cho gọn và rõ ý hơn, tránh quy định chồng chéo hoặc trùng lặp giữa các nguyên tắc [37, tr31]. Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua theo Luật sỐ 91/2015/QH13, trong đó Điều 1, Bộ luật Dân sự năm 2015 nhắn mạnh: “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đăng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự). Nếu Bộ luật Dân sự năm 2005 các nguyên tắc cơ bản được quy định riêng trong Chương II gồm 9 điều luật: từ Điều 4 đến Điều 12 điều 13 quy định căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự (bản chất cũng là một nguyên tắc). Theo nguyên lý chung của pháp luật dân sự, nguyên tắc cơ bản này được áp dụng cho tất cả các chế định trong bộ luật.
Tùy thuộc tính chất đặc thù của mỗi loại quan hệ dân sự, mỗi chế định trong bộ luật lại quy định nguyên tắc đặc trung riêng thê hiện là những quy định chung hoặc ghi nhận thành một nguyên tắc như: Nguyên tắc giao kết hợp đồng (Điều 389); Nguyên tắc bôi thường thiệt hại (Điều 605). Các quy định cho riêng chế định đó mà không áp dụng cho các chế định khác. Qua trình tổng kết thi hành và áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 các nhà làm luật nhận thấy rằng: Mặc dù được kế thừa hệ thống pháp luật có từ khi thành lập nước, nhưng có những nguyên tắc không được sử dụng trong xác lập, thực hiện các quan hệ dân sự; hoặc những cơ quan nhà nước có thâm quyên, Tòa án chưa bao giờ áp dụng khi giải quyết tranh chấp như Điều 6, Điều 8 Bộ luật Dân sự. Để đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật lập pháp và tạo thuận lợi cho việc áp dụng, vận dụng trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nay Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chỉ trong Điều 3: Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, gồm có 5 điều khoản cơ bản nhất [6, tr13].
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự: 18 “1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đăng, không được lấy bất kỳ lý do nào đề phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyên nhân than va tai san. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vỉ phạm điều cắm của luật, không trải đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chỉ, trung thực. Việc xác lập, thực hiện, cham ditt quyên, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyên và lợi ích hợp pháp của người khác. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. ” Như vậy, với sự quy định cụ thể tại Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ những nguyên tắc nêu trên là “những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự” mà không còn chỉ là những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự như quy định ở Bộ luật năm 2005 nữa.
Điều này giúp phạm vi điều chỉnh của các nguyên tắc cơ bản không chỉ đương nhiên được áp dụng cho các vấn đề nêu trong Bộ luật Dân sự mà còn cho các vấn đề khác thuộc phạm vi pháp luật dân sự. Bên cạnh đó việc thu hẹp các quy định về các nguyên tắc cơ bản trong một Điều luật duy nhất và loại bỏ quy định thê hiện nguyên tắc cơ bản - một số quy định trước đây là nguyên tắc cơ bản nhưng khi sửa đổi Bộ luật không còn là nguyên tắc cơ bản nữa. Điều này giúp loại bỏ những quy định không cần thiết và không còn thực sự phù hợp với hoàn cảnh pháp luật hiện nay ở nước ta. Việc sửa đổi một số nguyên tắc cơ bản cũng được thực hiện cho chính xác hơn và ngắn gọn, xúc tích phù hợp với hoàn cảnh thực tế thực hiện.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định được vai trò của các nguyên tắc 19 cơ bản qua việc bổ sung quy định về mối quan hệ giữa các nguyên tắc cơ bản với quy định khác. Khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng”. Điều này chính là sự khăng định vai trò của các nguyên tắc cơ bản so với quy định trong luật khác theo hướng ưu tiên thực hiện các nguyên tắc cơ bản.
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chi nhận tại Điều 14 nội dung như sau: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” chính vì vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự được bảo vệ, đồng thời hạn chế tối đa sự can thiệp của cơ quan nhà nước vào việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ đó. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định cụ thé nguyén tac binh dang, tu nguyện, tự do thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm của các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Nguyên tắc tự do ý chí tức là tự do cam kết, tự do thỏa thuận chính là một trong những nguyên tắc mang tính đặc trưng của pháp luật dân sự, khác với các quan hệ pháp luật hình sự hay hành chính. Các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có sự độc lập về quyền sở hữu, tự chủ, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm khi tham gia vào các quan hệ đó.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc tự do ý chí là một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng cốt lõi của pháp luật dân sự, tại khoản 2 Điều 3 cụ thê: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyển, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tu do, tu nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cắm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực 20 thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Một trong những tiêu chí quan trọng để các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự xác lập. thực hiện, chấm dứt các quyên, nghĩa vụ dân sự đó chính là nguyên tắc tự do, tự nguyện cùng càm kết, cùng thỏa thuận.
Các bên hoàn toàn tự do ý chí trong việc lựa chọn hướng xác lập quan hệ dân sự. Khi tham gia vào các quan hệ đó các bên đảm bảo không bị đe dọa, cưỡng ép, hoản toàn tự nguyện đó chính là yêu cầu cơ bản của mọi quan hệ dân sự. Nếu vi phạm yêu cầu này quan hệ dân sự đó có thể bị coi là vô hiệu. Điều này làm nên sự khác biệt đặc trưng so với các quan hệ pháp luật khác.
Đối với các quan hệ pháp luật hình sự ở nước ta, Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định tại Điều 2 cụ thể: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” và khoản 1 Điều 8 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự”. Chính vì vậy dé phat sinh quan hệ pháp luật hình sự thì phải có hành vi phạm tội, hành vi gây nguy hiểm cho xã hội trong đó phạm vi điều chỉnh hành vi này là Bộ luật Hình sự. Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội. Nhà nước có quyền tối cao trong việc định đoạt sé phận của người phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ gây ra.