Các Nguyên Tắc Sử Dụng Nguồn Nước Quốc Tế - Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Sông Mê Công

Tìm hiểu các nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế và thực tiễn áp dụng tại sông Mê Công. Nghiên cứu lý luận, đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2023

49
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

1.2.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài

1.2.2. Các công trình nghiên cứu Việt Nam

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Các phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

1.7. Bố cục của khóa luận

2. PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG

2. CHƯƠNG I: Lý luận chung về nguồn nước quốc tế và một số nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế

2.1. Khái niệm về nguồn nước quốc tế

2.2. Khái niệm nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế

2.3. Một số học thuyết của pháp luật về sử dụng nguồn nước quốc tế

3. CHƯƠNG II: Thực trạng sử dụng nguồn nước sông Mê Công và một số khuyến nghị

3.1. Thực trạng sử dụng nguồn nước sông Mê Công

3.2. Sông Mê Công và vai trò với Việt Nam

3.3. Thực trạng sử dụng của các quốc gia ven sông Mê Công

3.4. Tác động đối với Việt Nam

3.5. Đánh giá về việc thực hiện các nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế tại sông Mê Công

3.6. Một số khuyến nghị sử dụng hiệu quả nguồn nước sông Mê Công

3.6.1. Khuyến nghị cho các quốc gia Uỷ hội sông Mê Công

3.6.2. Khuyến nghị cho Việt Nam

4. CHƯƠNG III: Kết luận

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nguyên Tắc Sử Dụng Nguồn Nước Quốc Tế Mê Công

Bài viết này đi sâu vào các nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế, đặc biệt tập trung vào trường hợp sông Mê Công. Sông Mê Công, một nguồn nước xuyên quốc gia quan trọng, là huyết mạch của sáu quốc gia. Việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn nước này đòi hỏi sự hợp tác và tuân thủ các nguyên tắc quốc tế. Khóa luận này sẽ đánh giá thực tiễn áp dụng các nguyên tắc này trên sông Mê Công và đề xuất các giải pháp để cải thiện việc quản lý nguồn nước xuyên biên giới, đảm bảo an ninh nguồn nước cho tất cả các quốc gia liên quan. Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình từ Giảng viên hướng dẫn là PGS. Dương Anh Sơn.

1.1. Định Nghĩa Nguồn Nước Quốc Tế Theo Luật Quốc Tế

Công ước New York 1997 định nghĩa nguồn nước quốc tế là "một nguồn nước, mà các phần của nguồn nước đó nằm tại các quốc gia khác nhau". Điều này nhấn mạnh tính chất liên kết và tác động qua lại giữa các quốc gia có chung nguồn nước. Công ước Helsinki 1992 mở rộng định nghĩa, bao gồm cả nước ngầm. Luật Tài nguyên nước của Việt Nam cũng có định nghĩa tương tự về nguồn nước liên quốc gia, nhấn mạnh dòng chảy từ hoặc đến Việt Nam. Việc hiểu rõ định nghĩa này là cơ sở để áp dụng các nguyên tắc sử dụng một cách công bằng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Các Nguyên Tắc Sử Dụng Nguồn Nước

Nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế là những tiêu chuẩn cơ bản định hướng cách các quốc gia quản lý và sử dụng nguồn nước chung. Các nguyên tắc như nguyên tắc công bằng và hợp lýnguyên tắc không gây tổn hại đáng kể đảm bảo rằng việc sử dụng nguồn nước không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các quốc gia khác. Pháp luật quốc tế về nguồn nước, theo đó, cung cấp khung pháp lý để quản lý bền vững các nguồn nước liên quốc gia.

II. Thách Thức Tác Động Thủy Điện Đến Nguồn Nước Sông Mê Công

Sông Mê Công đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính. Các đập này có thể làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và an ninh nguồn nước của các quốc gia hạ lưu, đặc biệt là Việt Nam. Cần có sự đánh giá kỹ lưỡng về tác động của các dự án thủy điện và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc thông báo trướctham vấn để giảm thiểu tác động tiêu cực. Tổ chức này có nhiệm vụ chính là “thúc đẩy và điều phối sự quản lý và phát triển bền vững nguồn nước và các tài nguyên liên quan khác vì lợi ích chung của các quốc gia và các dân tộc sinh sống trong lưu vực”, cho thấy việc Hiệp định Mê Công ra đời là minh chứng cho nhu cầu hợp tác trong quá trình sử dụng sông Mê Công để đạt được lợi ích chung giữa các quốc gia.

2.1. Ảnh Hưởng Của Đập Thủy Điện Đến Lưu Lượng Nước

Việc xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Công, đặc biệt là ở Trung Quốc và Lào, làm giảm lưu lượng nước về hạ lưu. Điều này gây ra tình trạng thiếu nước trong mùa khô, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân ở đồng bằng sông Cửu Long. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giảm lưu lượng nước là do các đập giữ nước để sản xuất điện.

2.2. Các Vấn Đề Môi Trường Do Thay Đổi Dòng Chảy

Thay đổi dòng chảy do các đập thủy điện còn gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng. Việc giảm phù sa làm giảm độ màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến sản lượng lúa. Ngoài ra, sự thay đổi dòng chảy còn tác động đến hệ sinh thái, làm giảm đa dạng sinh học và ảnh hưởng đến nghề cá. Hiện nay, an ninh nguồn nước tại đồng bằng Sông Cửu Long là một vấn đề quan trọng khi nguồn nước tại khu vực giảm mạnh, dẫn đến nhiều tác động tiêu cực khác.

2.3. Tác Động Tiêu Cực Đến Việt Nam Và Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc giảm lưu lượng nước sông Mê Công. Tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, mực nước ngầm giảm, gây khó khăn cho việc cung cấp nước sinh hoạt cho người dân.

III. Hướng Dẫn Áp Dụng Nguyên Tắc Công Bằng Hợp Lý Mê Công

Nguyên tắc công bằng và hợp lý là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong luật quốc tế về nguồn nước. Nguyên tắc này yêu cầu các quốc gia ven sông Mê Công phải sử dụng nguồn nước một cách công bằng, có tính đến nhu cầu của tất cả các quốc gia khác. Việc áp dụng nguyên tắc này đòi hỏi sự hợp tác, minh bạch và chia sẻ thông tin giữa các quốc gia.Nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp lý nguồn nước quốc tế và nguyên tắc không gây hại đáng kể là những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trong lĩnh vực luật quốc tế về nguồn nước.

3.1. Các Tiêu Chí Đánh Giá Tính Công Bằng Và Hợp Lý

Để đánh giá tính công bằng và hợp lý của việc sử dụng nguồn nước, cần xem xét các yếu tố như: đặc điểm địa lý, khí hậu, nhu cầu kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, dân số phụ thuộc vào nguồn nước, tác động của việc sử dụng nước của một quốc gia đến các quốc gia khác, các biện pháp bảo tồn và quản lý nguồn nước. Cần có những nghiên cứu, đánh giá và bàn luận kĩ lưỡng.

3.2. Vai Trò Của Ủy Hội Sông Mê Công MRC

Ủy hội sông Mê Công (MRC) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác và quản lý nguồn nước sông Mê Công. MRC có trách nhiệm thu thập và chia sẻ thông tin, xây dựng các tiêu chuẩn và hướng dẫn sử dụng nước, và giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Như vậy, việc Hiệp định Mê Công ra đời là minh chứng cho nhu cầu hợp tác trong quá trình sử dụng sông Mê Công để đạt được lợi ích chung giữa các quốc gia.

3.3. Giải Pháp Để Cải Thiện Hợp Tác Và Chia Sẻ Thông Tin

Để cải thiện hợp tác và chia sẻ thông tin, các quốc gia cần tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin và minh bạch hóa các dự án sử dụng nước. Chia sẻ dữ liệu về dòng chảy, mực nước, và chất lượng nước là rất quan trọng để đánh giá tác động và đưa ra các quyết định sử dụng nước hợp lý.

IV. Bí Quyết Giảm Thiểu Tác Động Xấu Nguyên Tắc Không Gây Hại

Nguyên tắc không gây tổn hại đáng kể yêu cầu các quốc gia không được sử dụng nguồn nước quốc tế theo cách gây ra tổn hại đáng kể cho các quốc gia khác. Nguyên tắc này nhấn mạnh trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo vệ tài nguyên nước và hệ sinh thái liên quan. Do đó, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn về nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế có khả năng áp dụng tại sông Mê Công.

4.1. Định Nghĩa Tổn Hại Đáng Kể Theo Luật Quốc Tế

"Tổn hại đáng kể" là những ảnh hưởng tiêu cực có thể đo lường được, gây ra thiệt hại về kinh tế, xã hội hoặc môi trường cho các quốc gia khác. Các ví dụ bao gồm giảm sản lượng nông nghiệp, suy giảm nguồn cá, ô nhiễm nguồn nước và suy thoái hệ sinh thái.

4.2. Các Biện Pháp Phòng Ngừa Và Giảm Thiểu Tổn Hại

Để phòng ngừa và giảm thiểu tổn hại, các quốc gia cần thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trước khi triển khai các dự án sử dụng nước. ĐTM phải xem xét tất cả các tác động tiềm tàng và đề xuất các biện pháp giảm thiểu. Ngoài ra, cần áp dụng các tiêu chuẩn và công nghệ tiên tiến để giảm thiểu ô nhiễm và sử dụng nước hiệu quả.

4.3. Cơ Chế Giải Quyết Tranh Chấp Khi Xảy Ra Tổn Hại

Khi xảy ra tranh chấp về tổn hại do sử dụng nước, các quốc gia cần sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp hòa bình như đàm phán, hòa giải và trọng tài. Các cơ chế này cần dựa trên các quy tắc của luật quốc tế về nguồn nước và đảm bảo tính công bằng, minh bạch.

V. Thực Tiễn Đánh Giá Việc Thực Hiện Nguyên Tắc Tại Sông Mê Công

Việc thực hiện các nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế trên sông Mê Công vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều dự án thủy điện không tuân thủ đầy đủ các quy trình đánh giá tác động môi trường và tham vấn. Các quốc gia cần tăng cường nỗ lực để thực hiện đầy đủ các nguyên tắc này, đảm bảo sử dụng bền vững nguồn nướcan ninh nguồn nước cho tất cả các quốc gia liên quan. Để hiểu liệu rằng các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện nguyên tắc và liệu rằng nguyên tắc này đã được bảo đảm đầy đủ hay chưa, cần có những nghiên cứu, đánh giá và bàn luận kĩ lưỡng.

5.1. Phân Tích Các Trường Hợp Vi Phạm Nguyên Tắc

Phân tích một số trường hợp cụ thể, ví dụ như việc xây dựng đập Xayaburi ở Lào, để đánh giá mức độ tuân thủ các nguyên tắc. Cần chỉ ra những điểm không tuân thủ và tác động của chúng đến các quốc gia hạ lưu.

5.2. Các Yếu Tố Cản Trở Việc Thực Hiện Nguyên Tắc

Xác định các yếu tố cản trở việc thực hiện các nguyên tắc, bao gồm sự khác biệt về lợi ích quốc gia, thiếu lòng tin, thiếu nguồn lực và năng lực, và thiếu cơ chế giám sát và thực thi hiệu quả. Như vậy, để góp phần tìm ra những giải pháp phù hợp cho Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia, tác giả cho rằng cần có những nghiên cứu cụ thể hơn về nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế có khả năng áp dụng tại sông Mê Công.

5.3. Bài Học Kinh Nghiệm Cho Tương Lai

Rút ra các bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện các nguyên tắc trên sông Mê Công để áp dụng cho các lưu vực sông quốc tế khác. Các bài học này có thể bao gồm việc tăng cường hợp tác, xây dựng cơ chế giám sát độc lập, và nâng cao năng lực cho các quốc gia ven sông.

VI. Tương Lai Giải Pháp Quản Lý Nguồn Nước Sông Mê Công Bền Vững

Để đảm bảo quản lý nguồn nước xuyên biên giới bền vững trên sông Mê Công, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế, và áp dụng các giải pháp công nghệ và chính sách tiên tiến. Việc chia sẻ lợi ích từ nguồn nước, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh nguồn nước là chìa khóa cho một tương lai thịnh vượng cho tất cả các quốc gia ven sông. Với nghiên cứu này, tác giả hy vọng chỉ ra đặc điểm của các nguyên tắc tại Hiệp định Mê Công, đồng thời đề xuất một số phương án để đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc trong quá trình áp dụng đối với sông Mê Công.

6.1. Đề Xuất Các Chính Sách Hợp Tác Khu Vực

Đề xuất các chính sách hợp tác khu vực nhằm tăng cường chia sẻ thông tin, xây dựng lòng tin và giảm thiểu tranh chấp. Các chính sách này có thể bao gồm việc thành lập các cơ chế đối thoại thường xuyên, chia sẻ dữ liệu về nguồn nước, và phát triển các dự án hợp tác sử dụng nước.

6.2. Các Giải Pháp Công Nghệ Để Sử Dụng Nước Hiệu Quả

Áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến để sử dụng nước hiệu quả, bao gồm hệ thống tưới tiết kiệm nước, công nghệ xử lý nước thải, và các giải pháp lưu trữ nước. Các giải pháp này có thể giúp giảm áp lực lên nguồn nước và đảm bảo cung cấp nước ổn định cho các mục đích khác nhau.

6.3. Tăng Cường Năng Lực Quản Lý Nguồn Nước Cho Các Quốc Gia

Đầu tư vào việc tăng cường năng lực quản lý nguồn nước cho các quốc gia ven sông, bao gồm đào tạo nguồn nhân lực, nâng cấp cơ sở hạ tầng và xây dựng các hệ thống quản lý thông tin. Việc này sẽ giúp các quốc gia quản lý nguồn nước một cách hiệu quả và bền vững.

13/05/2025
Các nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế một số vấn đề lý luận và thực tiễn sông mê công

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: Lý luận chung về nguồn nước quốc tế và một số nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế 1. Khái niệm về nguồn nước quốc tế Khái niệm về nguồn nước quốc tế được quy định tại nhiều điều ước quốc tế. Công ước New York 1997 đề cập đến hai định nghĩa là “nguồn nước” (watercourse) và “nguồn nước quốc tế” hay “nguồn nước liên quốc gia” (international watercourse) tại Điều 2. Theo đó, nguồn nước được định nghĩa là “hệ thống nước bề mặt hoặc nước ngầm tạo thành từ mối quan hệ vật lý, tạo nên một tổng thể đơn nhất và thường chảy chung vào một điểm cuối cùng”.

Trong phạm vi Công ước, về mặt câu chữ, nguồn nước là hệ thống nước mặt và nước ngầm. Có thể hiểu Công ước New York 1997 loại trừ phạm vi áp dụng đối với các túi nước ngầm (aquifiers).1 Khái niệm về nguồn nước này là nền tảng để xác định thế nào là nguồn nước quốc tế, theo đó, nguồn nước quốc tế là một nguồn nước, mà các phần của nguồn nước đó nằm tại các quốc gia khác nhau. Như vậy, theo Công ước New York 1997, việc xác định một nguồn nước có tính quốc tế là dựa vào đặc điểm tự nhiên của nó, nguồn nước có các bộ phận thuộc lãnh thổ của nhiều quốc gia, chứ không nằm trọn vẹn trong phần lãnh thổ của chỉ một quốc gia. Theo Công ước về bảo vệ và sử dụng các nguồn nước xuyên biên giới và các hồ quốc tế (Công ước Helsinki 1992), nguồn nước xuyên biên giới là “bất kỳ nguồn nước mặt hoặc nước ngầm nào có một phần, chảy ngang hoặc nằm trên biên giới giữa hai hay nhiều quốc gia”.

Như vậy, Công ước Helsinki 1992 xác định nguồn nước bao hàm mọi hình thức, và do đó không loại phạm vi áp dụng đối với các túi nước ngầm. Theo Điều 2(2) Luật Tài nguyên nước 2012, nguồn nước là: “các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.” Luật Tài nguyên nước 2012 không sử dụng thuật ngữ “nguồn nước quốc tế”, mà sử dụng thuật ngữ “nguồn nước liên quốc gia”, được định nghĩa là: 1 Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao, ‘Tổng quan hệ thống điều ước quốc tế liên quan đến quản trị nguồn nước và những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế’ 7 “nguồn nước chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang lãnh thổ nước khác hoặc từ lãnh thổ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nguồn nước nằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng.” Định nghĩa về nguồn nước quốc tế của Công ước New York 1997, Công ước Helsinki 1992 và Luật Tài nguyên nước có một số khác biệt. Cụ thể, Công ước New York 1997 và Công ước Helsinki 1992 đưa ra định nghĩa mang tính khái quát hơn, trong khi Luật Tài nguyên nước bên cạnh định nghĩa dựa trên đặc điểm của nguồn nước, còn liệt kê một số hình thức tồn tại của nguồn nước. Có thể thấy, Công ước tính đến việc nguồn nước có thể có bộ phận là nước ngầm hoặc nước bề mặt, và vì vậy mối liên kết và tác động lẫn nhau giữa các phần của một nguồn nước là vấn đề quan trọng.

Do đó, nếu tác động đến một phần của hệ thống (nguồn nước) thì các phần khác cũng sẽ bị tác động.2 Tóm lại, dù cách định nghĩa khác nhau về câu chữ và tồn tại sự khác biệt nhỏ về phạm vi áp dụng, nhìn chung có thể xác định nguồn nước quốc tế theo hai khía cạnh chính: Thứ nhất, đối tượng được xác định là một nguồn nước. Nguồn nước có thể tồn tại dưới bất kỳ dạng nào. Việc loại trừ hình thức tồn tại của một nguồn nước là phụ thuộc vào phạm vi áp dụng của một điều ước quốc tế hoặc văn bản quy phạm pháp luật nhất định. Thứ hai, nguồn nước đó có các bộ phận nằm trên lãnh thổ của nhiều quốc gia.

Điều này có nghĩa là nguồn nước quốc tế không chỉ nằm trong một biên giới địa lý hay chính trị, do đó nguồn nước quốc tế nằm dưới cơ chế quản lý của nhiều quốc gia khác nhau. Các quốc gia có nhiều biện pháp quản lý khác nhau, tùy vào việc quốc gia đó lựa chọn ưu tiên các lợi ích kinh tế hay chính trị và tùy vào đặc điểm vật lý, địa lý và thủy văn của con sông.3 2 Stephen McCaffrey, International water law for the 21st century: The contribution of the U. 11 3 Zeray Yihdego, Julie Gibson (2020), ‘Implementing International Watercourses Law through the WEF Nexus and SDGs: an Integrated Approach Illustrated in the Zambezi River Basin’, International Water Law, tr. 6 8 Sông Mê Công có chiều dài 4.800 km, bắt nguồn từ lòng chảo Tây Tạng, chảy qua các địa phận thuộc lãnh thổ của 06 nước châu Á: Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

Trong tổng diện tích lưu vực khoảng gần 800.000 km2, Trung Quốc chiếm 21%; Lào chiếm 25%; Myanma chiếm 3%; Thái Lan chiếm 23%; Campuchia chiếm 20% và Việt Nam chiếm 8%.4 Mặc dù Hiệp định Mê Công, với phạm vi áp dụng cho sông Mê Công, lại không đưa ra định nghĩa về một nguồn nước quốc tế. Như những điều kiện đã phân tích, sông Mê Công vẫn có thể được xác định là một nguồn nước quốc tế phù hợp với Công ước New York 1997, Công ước Helsinki 1992 và Luật Tài nguyên nước 2012, với dòng chảy đi qua lãnh thổ của nhiều quốc gia. Khái niệm nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế Nguyên tắc, theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2005), là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. Tương tự, trong tiếng Anh, nguyên tắc (principle) được từ điển Oxford định nghĩa là quy tắc hay lý thuyết làm cơ sở cho một thứ khác.5 Bên cạnh đó, từ điển Cambridge định nghĩa nguyên tắc là ý tưởng hoặc quy tắc cơ bản để kiểm soát cách một sự vật hoạt động hoặc diễn ra.6 Như vậy, nguyên tắc là những ý tưởng cơ bản và được áp dụng để chi phối những hoạt động cụ thể.

Nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp lý và nguyên tắc không gây hại đáng kể, một cách chính xác, là những nguyên tắc của pháp luật quốc tế về nguồn nước. Pháp luật quốc tế về nguồn nước cung cấp khung pháp lý để quản trị tính bền vững của các nguồn nước liên quốc gia. Trong đó, một trong các chức năng quan trọng nhất của pháp luật quốc tế về nguồn nước bao gồm việc xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến sử dụng nguồn nước.7 Như vậy, quản trị nguồn nước bao hàm khái niệm quản 4 Nguyễn Thị Tú Trinh (2019), ‘Tham vọng của Trung Quốc, Lào trong xây dựng đập thủy điện trên sông Mê Kông và tác động đối với Việt Nam’, Tạp chí Đông Nam Á, Số 9/2019 <https://kctl.vn/khoa-hoc-cong-nghe/tham-vong-cua-trung-quoc-lao-trong-xay-dung-dap-thuy-dien-tren- song-me-kong-va-tac-dong-doi-voi-viet-nam?&lang=vi> truy cập ngày 27/3/2023 5 Từ điển Oxford: Principle <https://www.com/definition/english/principle?q=principle> truy cập ngày 27/3/2023 6 Từ điển Cambridge: Principle <https://dictionary.org/vi/dictionary/english/principle> truy cập ngày 27/3/2023 7 Summary Notes of the International Water Law and UN Watercourses Convention Regional Awareness Workshop (2012) <http://www.org/images/2012/10/Summary-report-of-the-Regional- Awareness-Raising-Workshop_May10_20120530-1.pdf> truy cập ngày 27/3/2023 9 lý các hoạt động sử dụng nguồn nước và đây là một trong các nội dung được pháp luật quốc tế về nguồn nước điều chỉnh. Do đó, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về nguồn nước có thể được hiểu theo phạm vi hẹp hơn là các nguyên tắc liên quan đến việc sử dụng nguồn nước quốc tế.

Vậy, nguyên tắc sử dụng nguồn nước quốc tế là nguyên tắc của pháp luật quốc tế về nguồn nước, định ra những tiêu chuẩn cơ bản đối với việc sử dụng nguồn nước và làm nền tảng cho việc thực thi các mục tiêu của pháp luật quốc tế về nguồn nước. Một số học thuyết của pháp luật về sử dụng nguồn nước quốc tế Trên thế giới, quá trình phát triển các quy định của pháp luật về nguồn nước quốc tế xuất phát từ việc quản lý nguồn nước của các quốc gia. Những quan điểm khác biệt về quyền đối với nguồn nước trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong mối tương quan về lợi ích và ảnh hưởng đối với quốc gia khác, là những ý tưởng hình thành nên các học thuyết, trong đó chủ yếu bao gồm: học thuyết chủ quyền lãnh thổ tuyệt đối, học thuyết toàn vẹn lãnh thổ tuyệt đối và học thuyết chủ quyền lãnh thổ hạn chế. Học thuyết chủ quyền lãnh thổ tuyệt đối Học thuyết chủ quyền lãnh thổ tuyệt đối còn được biết đến với tên gọi Học thuyết Harmon.

Trong tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Mexico đối với sông Rio-Grande, Judson Harmon, Tổng Chưởng lý của Hoa Kỳ đã tuyên bố Hoa Kỳ có quyền tuyệt đối trong việc sử dụng con sông vào năm 1895. Harmon cho rằng: “Việc Rio Grande không đủ nước để người dân cả hai quốc gia sử dụng thì không cho Mexico quyền áp đặt các hạn chế đối với Hoa Kỳ.”; “Việc thừa nhận nguyên tắc (Mexico có quyền áp đặt hạn chế đối với Hoa Kỳ) sẽ hoàn toàn trái ngược với nguyên tắc rằng Hoa Kỳ thực hiện đầy đủ chủ quyền đối với lãnh thổ quốc gia”.9 Khái niệm về chủ quyền quốc gia, xét theo nghĩa rộng được hiểu là quyền lực tối cao, tuyệt đối và không thể kiểm soát của một quốc gia và quyền kiểm soát các vấn 8 Muhammad Mizanur Rahaman (2009), ‘Principles of international water law: Creating effective transboundary water resources management’, Int. Sustainable Society, Vol. Mogomotsi, Ketlhatlogile Mosepele (2020), ‘Legal aspects of transboundary water management: Ananalysis of the intergovernmental institutional arrangements in the Okavango River Basin’ Leiden Journal of International Law, tr.ly/3KdTOlh> truy cập ngày 20/3/2023 10 đề và tài nguyên bên trong quốc gia đó.10 Từ đó, xét theo nghĩa hẹp, một quốc gia có quyền không thể bị giới hạn đối với việc kiểm soát và sử dụng tài nguyên, trong đó bao gồm nguồn nước trong phạm vi lãnh thổ của nó mà không phải quan tâm đến lợi ích của các quốc gia kề cận hay các quốc gia khác.11 Theo học thuyết chủ quyền lãnh thổ tuyệt đối, một quốc gia có quyền sử dụng nguồn nước quốc tế chảy qua lãnh thổ của quốc gia đó, mà không cần tính đến những hậu quả đối với các quốc gia khác và không phải có nghĩa vụ tham vấn.

Từ ý tưởng này, các quốc gia thượng nguồn tự do sử dụng nguồn nước mà không cần cân nhắc lợi ích của các quốc gia hạ nguồn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ