MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài 'Từ sau Đại hội Đăng công sản Việt Nam toàn quốc lần thứ VI năm 1986, dưới sự lãnh đao của Dảng, đất nước ta đã và đang tiễn hành công cuộc đổi mới. 30 năm qua những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã thúc đẩy nền kinh tế- xã hội của nước ta phát triển. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt. Cùng với sự phát triển của xã hội, giao lưu hội nhập với quốc tế là xu thể khách quan, bao trừm các lĩnh vuc.Cho đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với gần 200 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, có quan hệ thương mại với 224 thị trường ta tắt cả châu lục; tham gia hơn 500 hiệp định sơng phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu but g4n 260 ti USD vén đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Cùng với tiền trình hợp tác kinh tế, thương mại, số lượng công dân Việt Nam được cử di hợp tác lao động ở nước ngoài cũng tăng lên đáng kế. Bên cạnh đó, số lượng khách du lịch nước ngoài vả người Việt Nam định cư ở nước ngoài dịnh cư ở nước ngoài xuất nhập cảnh vào Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau ngay cảng tăng. Các quan hệ giao lưu về dân sự - kinh tế, thương mại, văn hoá — xã hội có yếu tế nước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh. Các quan hệ pháp luật về dân sự, hộn nhân gia đình, lao động, kinh tế thương mại, hình sự, các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự có yếu tố nước ngoài trong các năm qua có xu hướng tăng ngày càng phức tạp.
Tình hình kết hôn và nuôi cơn nuôi giữa công dân Việt Nam voi người nước ngoài, trung bình mỗi năm cũng có hàng nghìn trường hợp kết hôn vả nuôi sen nuôi được đăng ký. Theo thẳng kê của Bộ Công an, từ năm 2009 đến nay, trung binh mỗi năm Việt Nam có 18.000 công dân kết hồn với người nước ngoài. Trong số đó, có 72% là nữ, chú yếu là kết hôn với người Đải Loan, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc. (chưa tính đến số lượng kết hôn với người Việt Nam dịnh cư ở nước ngoài) Tất cả các tỉnh hình trên đây đã và đang làm phát sinh ngày cảng nhiều vụ việc tranh chấp về dân sự, kinh tế - thương mại, hành chỉnh cỏ yếu tố nước ngoài đôi hỏi phải được giải quyết kịp thời với sự giúp đỡ tương trợ về pháp luật và tư pháp giữa cơ quan nhà nước Việt Nam và các cơ quan có thẳm quyền của các nước liên quan.
Đi dõi với việc xây đựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thì việc hoàn thiện pháp luật về wong trợ tư pháp quốc tế được coi là mội đảm bão hữu hiệu trong cơ chế hợp tác của các quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động của Toả án và các cơ quan tư pháp. Chủ trương này đã được khẳng định trọng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Irung ương Dảng Cộng sản Việt Nam khoá VII (Nghị quyết 1rung ương 8), điêu cần thiết là “phổi tiếp tục cũng có và tăng cường hoại động tương trợ tư pháp giữa liệt Nam với các nước trong thời lỳ mới, phái mỡ rộng quan hệ quốc tế về tương trợ tư pháp, về phòng, chẳng tội phạm và các lệ nạn xã "|2, tr109] Đổ báo về lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan tổ chức, công dân Việt Nam ở nước ngoài cũng như ở trong nước, phục vụ tốt hơn quả trình hội nhập quốc tế, Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thẳng pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hưởng đến năm 2020 đã nhắn mạnh vấn đề tương trợ tư pháp và yêu cầu sớm ban hành I.uật Tương trợ tư pháp. Ngày 21 tháng l1 năm 2007, Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua, sau đó là Nghị định số 92/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng năm 2008 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thị hành một số điều của Luật Tương trợ tư pháp đã thế chế hoá đường lỗi, chủ Ww trương của Đăng và Nhà nước về tương trợ tư pháp. Điều này khẳng định quyết tâm của Đăng, Nhả nước, Chính phủ, đồng thời thể hiện tằm quan trọng, tính bức xúc của công tác nảy trong bồi cảnh cải cách tư pháp và cải cách pháp luật, đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào thể piới và khu vực Bên cạnh những thuận lợi về khung pháp lý đã được quy định trong Hộ luật tế tụng đân sự, Luật tương trợ tư pháp và cdc [Liép định về tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký với một số nước, hoạt déng tương trợ tư pháp trong thời gian qua vẫn còn gặp phải những khó khăn.
Đến nay các Bộ, ngành vẫn chưa xây dựng được Kế hoạch đảm phán các hiệp định tương trợ tư pháp dài hạn tống thể cho các lĩnh vực để tạo thuận lợi cho việc phối hợp tổ chức đàm phán. Một số nội dung quản lý nhà nước đã được quy định cụ thể trong Luật Tương trợ lư pháp, Nghị định 92/2008/NĐ-CP nhưng chưa được triển khai trên thực tế như công tác kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp, tổ chức họp liên ngành, định kỳ để trao đổi thông tin, thảo luận, quyết định các biện pháp phối hợp giải quyết khó khăn, vưởng mắc trong việc thực hiện tương trợ tư pháp. Công tác kiểm tra việc thực hiện tương trợ tư pháp chưa được thực hiện. Số quốc gia, vùng lãnh thể có ký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam cỏn Ít nên việc thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp của Việt Nam phần lớn vẫn dựa vào nguyên tắc có đi có lại.
Các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, pháp luật của nước ngoài về uỷ thác tr pháp không được cập nhật, phố biến kịp thời, thường xuyên cho Toa án địa phương nên việc nghiên cứu và áp dụng đúng các điều ước quốc tế cũng như pháp luật nước được uỷ thác hết sức khỏ khăn. Bên cạnh đó, việc thiếu các quy định hướng dẫn về kinh phí và chỉ phí trong Lương trợ Lư pháp khiến hoạt động uỷ thác tư pháp gặp nhiều khó khăn vì không có mục kinh phí cho công tác náy, nhất là khi việc lập và gửi hồ sơ uỷ thác tư pháp đi nước ngoài cũng không it LỜI CẢM ƠN Với tắt cả tình cảm cua minh, em xin tô lòng kính trọng vả cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Vinh - giảng viên Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn, động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài. Em xin chân thành cắm ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thây, cô giáo khoa Luật, Dai hoc quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiên thuận lợi cho em trong. quả trình học tập và viết luận văn thạc sĩ.Tính cấp thiết của đề tài 'Từ sau Đại hội Đăng công sản Việt Nam toàn quốc lần thứ VI năm 1986, dưới sự lãnh đao của Dảng, đất nước ta đã và đang tiễn hành công cuộc đổi mới.
30 năm qua những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã thúc đẩy nền kinh tế- xã hội của nước ta phát triển. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt. Cùng với sự phát triển của xã hội, giao lưu hội nhập với quốc tế là xu thể khách quan, bao trừm các lĩnh vuc.Cho đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với gần 200 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, có quan hệ thương mại với 224 thị trường ta tắt cả châu lục; tham gia hơn 500 hiệp định sơng phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu but g4n 260 ti USD vén đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Cùng với tiền trình hợp tác kinh tế, thương mại, số lượng công dân Việt Nam được cử di hợp tác lao động ở nước ngoài cũng tăng lên đáng kế.
Bên cạnh đó, số lượng khách du lịch nước ngoài vả người Việt Nam định cư ở nước ngoài dịnh cư ở nước ngoài xuất nhập cảnh vào Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau ngay cảng tăng. Các quan hệ giao lưu về dân sự - kinh tế, thương mại, văn hoá — xã hội có yếu tế nước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh. Các quan hệ pháp luật về dân sự, hộn nhân gia đình, lao động, kinh tế thương mại, hình sự, các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự có yếu tố nước ngoài trong các năm qua có xu hướng tăng ngày càng phức tạp. Tình hình kết hôn và nuôi cơn nuôi giữa công dân Việt Nam voi người nước ngoài, trung bình mỗi năm cũng có hàng nghìn trường hợp kết hôn vả nuôi sen nuôi được đăng ký.
Theo thẳng kê của Bộ Công an, từ năm 2009 đến nay, trung binh mỗi năm Việt Nam có 18.000 công dân kết hồn với người nước ngoài. Trong số đó, có 72% là nữ, trương của Đăng và Nhà nước về tương trợ tư pháp. Điều này khẳng định quyết tâm của Đăng, Nhả nước, Chính phủ, đồng thời thể hiện tằm quan trọng, tính bức xúc của công tác nảy trong bồi cảnh cải cách tư pháp và cải cách pháp luật, đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào thể piới và khu vực Bên cạnh những thuận lợi về khung pháp lý đã được quy định trong Hộ luật tế tụng đân sự, Luật tương trợ tư pháp và cdc [Liép định về tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký với một số nước, hoạt déng tương trợ tư pháp trong thời gian qua vẫn còn gặp phải những khó khăn. Đến nay các Bộ, ngành vẫn chưa xây dựng được Kế hoạch đảm phán các hiệp định tương trợ tư pháp dài hạn tống thể cho các lĩnh vực để tạo thuận lợi cho việc phối hợp tổ chức đàm phán.