Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN 1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài sản do người dưới 18 tuổi thực hiện 1. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài sản do người dưới 18 tuổi thực hiện 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi Như chúng ta đã biết, ở Việt Nam, độ tuổi kết nạp Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là từ 10 đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là từ 15 đến 30 tuổi.
Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên, dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng. Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội. Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên. Khi nói đến khái niệm người dưới 18 tuổi, ta có thể nhận biết ngay đó là người chưa đến tuổi trưởng thành.
Tuổi trưởng thành của con người là độ tuổi cụ thể được pháp luật quy định hoặc thừa nhận là người đã thành niên và đã có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Trái lại, người chưa đến tuổi trưởng thành là chưa thành niên, tức là chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo các quy định của pháp luật hiện hành, người thành niên là người đủ 18 tuổi và ngưới dưới 18 tuổi là 8 người chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 54, Hiến pháp 1992 [13] và Điều 18 của Bộ luật Dân sự [58] xác lập người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên.
Đây là quy định cho mọi độ tuổi dưới 18 tuổi (kể từ người chưa đủ 18 tuổi trở xuống trẻ sơ sinh 0 tuổi). Người dưới 18 tuổi là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên. Theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn [6].
Ở Việt Nam, độ tuổi dưới 18 tuổi được xác định thống nhất trong Hiến Pháp, BLHS, BLTTHS, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người dưới 18 tuổi trong từng lĩnh vực cụ thể. Tóm lại, khái niệm người dưới 18 tuổi được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia trong đó các nước quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người dưới 18 tuổi. Vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm “Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người từ 18 tuổi trở lên”.
Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội trộm cắp tài sản Căn cứ vào khoản 1 Điều 8, BLHS của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã 9 hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”[14]. Tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện bao giờ cũng gắn liền với một hành vi phạm tội cụ thể nhưng không phải mọi trường hợp người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm. Theo quy định tại Điều 138 BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1999 thì: 1. Người nào TCTS của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; 10 g) Gây hậu quả nghiêm trọng. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng [14].
Điều 12 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1999 quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, như sau: 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [14]. Như vậy, người dưới 18 tuổi phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự có thể là: - Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
- Người đủ từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm một tội được quy định trong BLHS. Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, việc xác định một trường hợp cụ thể người có hành vi phạm tội có trở thành tội phạm hay không còn căn cứ vào nguyên tắc được quy định tại Điều 69 BLHS. Đó là: - Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có 11 ích cho xã hội. - Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. - Không áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đồng thời không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
- Án đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm [14]. Như vậy, tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra có những đặc điểm riêng so với tội phạm do người trên 18 tuổi gây ra. Tội phạm do người trên 18 tuổi gây ra là những hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ dấu hiệu tội phạm và đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra ngoài những dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn được xác định bằng sự nhận định, cân nhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền khi quyết định truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Quy định này dựa trên cơ sở phân tích về tâm, sinh lý đối với người chưa thành niên. Đây là đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm, sinh lý, họ bị hạn chế về trình độ nhận thức cũng như về kinh nghiệm sống, thiếu những điều kiện về bản lĩnh tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao nên họ dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của 12 người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: “Người dưới 18 tuổi phạm tội TCTS là người thuộc lứa tuổi chưa thành niên đã thực hiện hành vi TCTS được quy định trong BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.