Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển dịch cơ cấu với hơn 17 triệu hộ dân, trong đó có khoảng 13 triệu hộ chuyên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm 53,7% tổng số hộ và thu hút 51,4% lực lượng lao động xã hội. Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng đã tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với cơ cấu kinh tế và đời sống của cư dân nông thôn. Tại huyện miền núi Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, mặc dù địa phương đã thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hình thành các khu công nghiệp trọng điểm, tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm 7,34% và hộ cận nghèo chiếm 6,49%, đặt ra thách thức lớn trong công tác an sinh xã hội.

Việc thu hồi đất phục vụ phát triển hạ tầng công nghiệp khiến nhiều nông hộ đối mặt với áp lực chuyển đổi sinh kế, trong khi năng lực thích ứng của người dân còn hạn chế. Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng nguồn lực, hoạt động sinh nhai và thu nhập của hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Thanh Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện nguồn lực và nâng cao mức sống cho người dân.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại địa bàn huyện Thanh Sơn với tổng diện tích tự nhiên 62.110,40 ha, khảo sát chuyên sâu tại 3 xã đại diện gồm Cự Thắng, Cự Đồng và Thắng Sơn trong giai đoạn 2016-2019, định hướng giải pháp đến năm 2025. Ý nghĩa của luận văn thể hiện qua việc lượng hóa khoảng cách phát triển, chỉ ra mức chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa nhóm hộ hỗn hợp đạt 40,32 triệu đồng/người/năm so với nhóm hộ thuần nông chỉ đạt 24,79 triệu đồng/người/năm. Đề tài cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo bền vững và đáp ứng tiêu chí thu nhập trong Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững của các học giả quốc tế kết hợp với lý thuyết kinh tế hộ nông dân hiện đại. Mô hình tiếp cận sinh kế của Frank Ellis năm 1999 và các nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập nông thôn đóng vai trò nền tảng để phân tích 5 nguồn vốn sinh kế thiết yếu: vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội. Đối với hộ nông dân, các nguồn lực này không cố định mà có sự biến đổi linh hoạt dưới tác động của chính sách vĩ mô và thị trường.

Khái niệm hộ nông dân được định vị là đơn vị kinh tế cơ sở vừa thực hiện chức năng sản xuất vừa thực hiện chức năng tiêu dùng. Hoạt động sinh kế của nông hộ được chia thành hai nhánh chính: sinh kế nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp) và sinh kế phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, làm công ăn lương). Nghiên cứu phân loại hộ nông thôn theo hai tiêu chí cốt lõi: phân loại theo nghề nghiệp (hộ thuần nông và hộ hỗn hợp) và phân loại theo mức thu nhập (hộ khá, hộ trung bình, hộ cận nghèo và hộ nghèo).

Chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp (MI) được tính toán theo công thức kinh tế học chuẩn tắc: giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian, thuế sản xuất và khấu hao tài sản cố định. Bên cạnh đó, luận văn sử dụng hệ thống tiêu chí quản lý Nhà nước gồm Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 và Quyết định số 1980/QĐ-TTg quy định tiêu chí thu nhập khu vực Trung du miền núi phía Bắc phải đạt từ 36 triệu đồng/người/năm trở lên làm thước đo chuẩn mực để đánh giá thực trạng kinh tế nông hộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Thanh Sơn, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện và các công trình khoa học đã công bố trong giai đoạn 2016-2019.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp 96 hộ gia đình nông thôn tại 3 xã đại diện là Cự Thắng, Cự Đồng và Thắng Sơn bằng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả 4 nhóm mức sống (khá, trung bình, cận nghèo, nghèo) và 2 nhóm nghề nghiệp (thuần nông, hỗn hợp). Lý do lựa chọn 3 xã này xuất phát từ đặc trưng địa hình, cơ cấu cây trồng, mức độ tiếp cận giao thông và sự phân bổ của đồng bào dân tộc thiểu số.

Để tổng hợp và xử lý thông tin, tác giả sử dụng công cụ PivotTable trên phần mềm Microsoft Excel, kết hợp phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh. Việc áp dụng các công cụ này cho phép phân tích đa chiều các biến số về nhân khẩu, diện tích đất đai, cơ cấu vốn vay và giá trị thu nhập của từng nhóm hộ một cách trực quan, chính xác. Ngoài ra, phương pháp thảo luận nhóm tập trung và quan sát thực địa được triển khai nhằm kiểm chứng chéo số liệu, nâng cao độ tin cậy khoa học của kết quả nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng thu nhập bình quân của các hộ gia đình nông thôn khảo sát tại huyện Thanh Sơn đạt mức 136,8 triệu đồng/hộ/năm. Tuy nhiên, sự phân hóa thu nhập diễn ra rất rõ rệt giữa các nhóm kinh tế hộ. Nhóm hộ khá đạt tổng thu nhập cao nhất với 195,9 triệu đồng/hộ/năm, tiếp đến là nhóm hộ trung bình đạt 121,2 triệu đồng/hộ/năm, nhóm hộ cận nghèo đạt 95,3 triệu đồng/hộ/năm, và thấp nhất là nhóm hộ nghèo chỉ đạt 78,5 triệu đồng/hộ/năm. Mức thu nhập của nhóm hộ khá cao gấp gần 2,5 lần so với nhóm hộ nghèo.

Xét theo nguồn gốc tạo thu nhập, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp bình quân toàn huyện đạt 109,2 triệu đồng/hộ/năm. Trong đó, hộ khá đạt 123,7 triệu đồng/hộ/năm, hộ trung bình đạt 117,2 triệu đồng/hộ/năm, hộ cận nghèo đạt 95,3 triệu đồng/hộ/năm và hộ nghèo đạt 78,5 triệu đồng/hộ/năm. Thu nhập phi nông nghiệp bình quân đạt 98,2 triệu đồng/hộ/năm đối với những hộ có tham gia hoạt động này. Điểm đáng chú ý là nguồn thu phi nông nghiệp tập trung hoàn toàn ở nhóm hộ khá và hộ trung bình, trong khi nhóm hộ cận nghèo và hộ nghèo đạt mức 0 đồng từ lĩnh vực phi nông nghiệp.

Khi phân loại theo cơ cấu nghề nghiệp, nhóm hộ hỗn hợp kiêm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp đạt tổng thu nhập 176,2 triệu đồng/hộ/năm, cao hơn nhóm hộ thuần nông 54,8 triệu đồng/hộ/năm (tương đương mức chênh lệch 45,1%). Tính theo bình quân đầu người, thu nhập của nhóm hộ hỗn hợp đạt 40,32 triệu đồng/người/năm (tương đương 3,36 triệu đồng/người/tháng), vượt 15,32 triệu đồng/người/năm so với nhóm hộ thuần nông chỉ đạt 24,79 triệu đồng/người/năm (tương đương 2,07 triệu đồng/người/tháng).

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch thu nhập sâu sắc giữa các nhóm hộ bắt nguồn từ sự bất bình đẳng trong tiếp cận và sở hữu các nguồn lực sinh kế. Nhóm hộ nghèo và cận nghèo tại Thanh Sơn gặp rào cản lớn về vốn con người khi trình độ học vấn của chủ hộ thấp, lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ áp đảo. Điều này khiến họ không thể tiếp cận các cơ hội việc làm công nghiệp tại các nhà máy, mỏ khai khoáng hoặc khu công nghiệp trên địa bàn, buộc phải phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp truyền thống.

Bên cạnh đó, việc hạn chế về nguồn vốn tự nhiên và vốn tài chính khiến các hộ nghèo không có khả năng đầu tư máy móc hiện đại hay mở rộng quy mô kinh tế trang trại. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Shanta Paudel Khatiwada năm 2017 tại Nepal và Chu Thị Kim Loan năm 2015 tại Thanh Hóa, khẳng định rằng đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp là con đường tất yếu để thoát nghèo nhanh chóng và bền vững.

Để minh họa rõ nét các phát hiện trên, toàn bộ cơ cấu thu nhập và sự phân tầng kinh tế giữa các nhóm hộ được hệ thống hóa qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp và phi nông nghiệp, kết hợp bảng ma trận thống kê tương quan giữa trình độ văn hóa chủ hộ với quy mô thu nhập bình quân đầu người. Ý nghĩa của các số liệu này gióng lên hồi chuông cảnh báo: nếu không có chính sách hỗ trợ kịp thời, nhóm hộ thuần nông với mức thu nhập 24,79 triệu đồng/người/năm sẽ bị bỏ lại phía sau và còn cách rất xa chuẩn 36 triệu đồng/người/năm theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và gia tăng thu nhập cho người dân nông thôn huyện Thanh Sơn đến năm 2025, hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm được đề xuất như sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản và tiểu thủ công nghiệp làng nghề. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn cùng Phòng Kinh tế và Hạ tầng cần ưu tiên thu hút đầu tư vào các xưởng chế biến gỗ ván bóc xuất khẩu từ 43.105,42 ha đất lâm nghiệp hiện có, cơ sở chế biến chè chất lượng cao và nấu rượu truyền thống. Mục tiêu phấn đấu nâng tỷ trọng thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu nhập kinh tế hộ lên trên 45% vào năm 2025.

Thứ hai, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay cho hộ nghèo, cận nghèo. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện cần đơn giản hóa thủ tục thế chấp, nâng hạn mức cho vay sản xuất lên mức 50-80 triệu đồng/hộ với thời hạn linh hoạt từ 36 đến 60 tháng. Đồng thời, Hội Nông dân và Hội đồng nhân dân các xã Cự Thắng, Cự Đồng, Thắng Sơn phải cử cán bộ khuyến nông theo sát hướng dẫn nông dân lập phương án sinh kế và quản lý nhật ký thu chi gia đình.

Thứ ba, chuẩn hóa công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 60% dân số toàn huyện. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện phối hợp với các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp triển khai các khóa dạy nghề ngắn hạn về kỹ thuật cơ khí, dệt may, xây dựng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi gia cầm, bò thịt theo hướng an toàn sinh học.

Thứ tư, triển khai đồng bộ Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) gắn với bảo tồn giá trị văn hóa bản địa của người Mường (chiếm 55,92% dân số huyện). Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần hỗ trợ thành lập các hợp tác xã kiểu mới, xây dựng thương hiệu cho các nông đặc sản chủ lực như chè Thanh Sơn, thịt chua, chuối phấn và mật ong rừng, đặt mục tiêu đưa ít nhất 3 sản phẩm đạt chuẩn OCOP từ 3 sao trở lên vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

Nhóm cán bộ quản lý Nhà nước và hoạch định chính sách tại địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê có thể trực tiếp sử dụng dữ liệu khảo sát từ 96 hộ nông thôn để rà soát chuẩn nghèo đa chiều, xây dựng kế hoạch hành động giảm nghèo bền vững và hoàn thiện tiêu chí số 10 về thu nhập trong xây dựng nông thôn mới.

Nhóm quản trị hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp thu mua chế biến: Ban giám đốc các hợp tác xã tại Phú Thọ có thể khai thác bức tranh chi tiết về các sản phẩm thế mạnh như lúa, ngô, chè, gỗ keo và đàn gia cầm để hoạch định vùng nguyên liệu tập trung, xây dựng hợp đồng liên kết bao tiêu nông sản bền vững với nông hộ.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn: Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kinh tế hộ, kỹ thuật xử lý dữ liệu qua công cụ PivotTable và khung phân tích thu nhập hỗn hợp (MI) tại khu vực miền núi.

Nhóm chuyên viên các tổ chức phi chính phủ và định chế tài chính vi mô: Các tổ chức phát triển cộng đồng có thể dựa vào các phân tích về vốn tự nhiên, vốn con người và rào cản sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, tín dụng vi mô phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm hộ hỗn hợp và nhóm hộ thuần nông tại huyện Thanh Sơn là bao nhiêu? Nhóm hộ hỗn hợp đạt mức thu nhập 176,2 triệu đồng/hộ/năm (tương đương 40,32 triệu đồng/người/năm), cao hơn nhóm hộ thuần nông 54,8 triệu đồng/hộ/năm (tương đương mức chênh lệch 45,1% về quy mô hộ và 62,6% về bình quân đầu người).

Tại sao nhóm hộ nghèo và cận nghèo tại địa bàn nghiên cứu hoàn toàn không có thu nhập phi nông nghiệp? Do rào cản về trình độ học vấn thấp, thiếu vốn đầu tư và chưa qua đào tạo nghề, 100% lao động thuộc nhóm hộ nghèo và cận nghèo tại 3 xã khảo sát không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các nhà máy công nghiệp, buộc phải phụ thuộc duy nhất vào sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp.

Cơ cấu cây trồng và vật nuôi chủ yếu đóng góp vào thu nhập của nông hộ Thanh Sơn gồm những loại nào? Về trồng trọt, các cây trồng chủ lực tạo sinh kế gồm lúa, ngô, sắn, lạc, chuối, chè và cây sơn. Về chăn nuôi, các loại vật nuôi mang lại nguồn thu chính theo thứ tự ưu tiên là gia cầm (chủ yếu là gà), lợn, cá, bò, trâu và dê.

Luận văn căn cứ vào các văn bản pháp lý nào để so sánh và đánh giá tiêu chí thu nhập nông thôn? Nghiên cứu sử dụng Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 và Quyết định số 1980/QĐ-TTg quy định tiêu chí thu nhập xã nông thôn mới vùng Trung du miền núi phía Bắc tối thiểu đạt 36 triệu đồng/người/năm.

Đặc điểm nhân khẩu học và dân tộc tác động như thế nào đến nguồn lực con người tại huyện Thanh Sơn? Huyện Thanh Sơn có trên 13 vạn dân với 32 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 60% và người Mường chiếm 55,92%. Nguồn nhân lực tại đây dồi dào nhưng chất lượng tay nghề chưa đồng đều, đòi hỏi các chính sách đào tạo nghề phải gắn liền với bảo tồn văn hóa và tri thức bản địa.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 kết luận và đóng góp then chốt:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nguồn lực kinh tế hộ, khung sinh kế bền vững và phương pháp xác định thu nhập hỗn hợp (MI) trong nông thôn miền núi.
  • Phản ánh trung thực bức tranh kinh tế hộ tại Thanh Sơn giai đoạn 2016-2019 với thu nhập bình quân đạt 136,8 triệu đồng/hộ/năm qua khảo sát 96 hộ tại 3 xã đại diện.
  • Lượng hóa chính xác sự bất bình đẳng thu nhập, chỉ ra nhóm hộ khá đạt 195,9 triệu đồng/hộ/năm (gấp 2,5 lần hộ nghèo) và hộ hỗn hợp đạt 40,32 triệu đồng/người/năm (cao hơn 62,6% so với hộ thuần nông).
  • Chứng minh vai trò quyết định của đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp và làm rõ các rào cản về vốn đất đai, vốn tài chính của nhóm hộ nghèo.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi đến năm 2025, kết hợp giữa chế biến nông lâm sản, tín dụng vi mô, đào tạo nghề và phát triển sản phẩm OCOP gắn với văn hóa người Mường.

Kế hoạch hành động giai đoạn 2021-2025 yêu cầu sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương, các hợp tác xã và người dân nhằm tối ưu hóa 43.105,42 ha đất lâm nghiệp, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Đây là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn không thể thiếu cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm đến bài toán phát triển kinh tế nông thôn bền vững.