Luận văn người Tày Nùng tham gia phong trào vũ trang giải phóng Cao Bằng

Luận văn nghiên cứu vai trò người Tày Nùng trong phong trào vũ trang giải phóng Cao Bằng giai đoạn 1941-1944, quá trình hình thành lực lượng cách mạng.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách người Tày Nùng tham gia Việt Nam tuyên truyền giải phóng

Phong trào Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (VNTTGPQ) ra đời trong bối cảnh lịch sử đặc biệt: đất nước bị thực dân Pháp và phát xít Nhật chiếm đóng, nhân dân khao khát độc lập. Ở Cao Bằng – nơi có cộng đồng người Tày Nùng sinh sống đông đảo – phong trào cách mạng đã nảy nở từ rất sớm, từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941). Chính tại vùng đất này, người Tày Nùng không chỉ hưởng ứng mà còn trở thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc tuyên truyền giải phóng và xây dựng lực lượng vũ trang. Họ tham gia từ khâu tổ chức hội cứu quốc, lập đội tự vệ, đến trực tiếp chiến đấu và bảo vệ cán bộ cách mạng. Nhờ sự gắn bó mật thiết với nhân dân, Việt Minh đã nhanh chóng lan tỏa trong các thôn bản, biến Cao Bằng thành “cái nôi” của cách mạng. Sự đóng góp của người Tày Nùng không chỉ mang tính địa phương mà còn có ý nghĩa chiến lược quốc gia, góp phần hình thành lực lượng tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

1.1. Vai trò của người Tày Nùng trong phong trào Việt Minh tại Cao Bằng

Ngay sau khi Bản điều lệ Việt Minh được ban hành năm 1941, người Tày Nùng ở các huyện Nguyên Bình, Hòa An, Quảng Uyên đã tích cực tham gia thành lập các hội cứu quốc như Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc. Họ không chỉ tuyên truyền chủ trương “Đánh đổ phát xít Nhật – Pháp, giành quyền độc lập cho dân tộc” mà còn tổ chức đội tự vệ trang bị gậy gộc, giáo mác, súng kíp để bảo vệ cơ sở cách mạng. Nhiều gia đình bán trâu, bán bạc, bán ruộng để mua súng ngắn, súng máy hỗ trợ lực lượng vũ trang. Sự hy sinh và lòng yêu nước của người Tày Nùng đã tạo nên nền tảng vững chắc cho sự ra đời của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào cuối năm 1944.

1.2. Bối cảnh lịch sử thúc đẩy người Tày Nùng tham gia giải phóng

Từ năm 1886, Cao Bằng bị thực dân Pháp đô hộ suốt 60 năm. Đến 1940, sau khởi nghĩa Bắc Sơn, phong trào cách mạng lan rộng. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã xác định: “Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân”. Với truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh kiên cường, người Tày Nùng – chiếm đa số dân cư Cao Bằng – đã trở thành lực lượng chủ lực trong việc triển khai chủ trương này. Họ không chỉ cung cấp nhân lực mà còn cung cấp lương thực, nơi ẩn náu và thông tin tình báo, giúp cách mạng扎根 trong lòng dân.

II. Thách thức khi người Tày Nùng tham gia Việt Nam tuyên truyền giải phóng

Mặc dù có tinh thần cách mạng cao, người Tày Nùng khi tham gia Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Đầu tiên là áp lực đàn áp từ chính quyền thực dân và tay sai. Từ 1936–1940, nhiều cán bộ cách mạng ở Cao Bằng bị tù đày, cơ sở bị phá vỡ. Thứ hai là thiếu vũ khí hiện đại – lực lượng tự vệ ban đầu chỉ có gậy gộc, giáo mác, súng kíp, trong khi địch trang bị súng máy, pháo binh. Thứ ba, rào cản ngôn ngữ và văn hóa đôi khi làm chậm quá trình phối hợp với cán bộ người Kinh từ trung ương. Tuy nhiên, chính sự gắn bó với địa phương, hiểu rõ địa hình rừng núi và mạng lưới quan hệ họ hàng chặt chẽ đã giúp người Tày Nùng vượt qua những trở ngại này. Họ biến thôn bản thành pháo đài, nương rẫy thành trận địa, và gia đình thành cơ sở cách mạng.

2.1. Đàn áp của thực dân Pháp và tay sai đối với người Tày Nùng

Sau khi Pháp tái chiếm Cao Bằng năm 1947, chúng triển khai bình đoàn hải ngoại với hàng nghìn lính, thiết giáp và pháo binh. Trong 3 năm (1947–1950), chúng tiến hành 1.047 trận càn quét, nhưng vẫn không dập tắt được phong trào. Người Tày Nùng bị bắt bớ, tra tấn, làng bản bị đốt phá. Tuy nhiên, chính sự tàn bạo này lại thúc đẩy tinh thần kháng chiến, khiến nhiều người từ trung lập chuyển sang ủng hộ cách mạng. Các đội diệt ác, trừ gian do người Tày Nùng tham gia đã loại bỏ hàng chục tên tay sai phản động, làm tê liệt bộ máy cai trị cấp xã, tổng của địch.

2.2. Khó khăn về vũ khí và hậu cần trong giai đoạn đầu

Ban đầu, lực lượng tự vệ của người Tày Nùng chỉ được trang bị vũ khí thô sơ. Để có súng, nhiều người phải bán tài sản, vượt biên giới Trung Quốc mua súng ngắn, súng máy (ma fon). Việc vận chuyển vũ khí qua rừng núi hiểm trở, tránh mắt địch, đòi hỏi sự dũng cảm và mưu trí. Dù vậy, nhờ sự ủng hộ của dân, lực lượng cách mạng luôn được cung cấp lương thực, thuốc men và nơi ẩn náu. Đây là yếu tố then chốt giúp Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tồn tại và phát triển ngay trong lòng địch.

III. Phương pháp người Tày Nùng tham gia Việt Nam tuyên truyền giải phóng

Sự tham gia của người Tày Nùng vào Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của chiến lược tổ chức bài bảnphương pháp vận động quần chúng hiệu quả. Trước hết, Đảng Cộng sản Đông Dương chọn Cao Bằng làm căn cứ địa nhờ địa hình hiểm trở và truyền thống cách mạng của người Tày Nùng. Thứ hai, tuyên truyền được lồng ghép vào sinh hoạt văn hóa – qua hát then, lượn, lễ hội – giúp người dân dễ tiếp nhận. Thứ ba, xây dựng lực lượng vũ trang từ quần chúng: mỗi hội cứu quốc đều có đội tự vệ, tiến tới hình thành tiểu đội, trung đội. Cuối cùng, gắn hoạt động quân sự với chính trị: vừa diệt ác, vừa vận động trung lập, vừa bảo vệ cơ sở. Nhờ đó, người Tày Nùng không chỉ là chiến sĩ mà còn là tuyên truyền viên, tình báo viên, hậu cần viên trong cùng một thể thống nhất.

3.1. Tổ chức hội cứu quốc và đội tự vệ trong cộng đồng Tày Nùng

Từ 1941–1942, hội Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc được thành lập ở từng thôn, bản. Mỗi hội có đội tự vệ với nhiệm vụ bảo vệ cán bộ, canh gác, vận chuyển. Nhiều phụ nữ Tày Nùng như Đàm Thị Loan (Cốc Lại) đã trực tiếp tham gia cướp chính quyền, kéo lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên ở Hà Nội ngày 2/9/1945. Các đội tự vệ này sau trở thành nòng cốt của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – đơn vị vũ trang đầu tiên của cách mạng Việt Nam.

3.2. Tuyên truyền qua văn hóa dân gian và sinh hoạt cộng đồng

Thay vì dùng tài liệu in ấn – dễ bị phát hiện – cán bộ cách mạngngười Tày Nùng đã chuyển tải thông điệp giải phóng qua hát then, lượn, kể chuyện dân gian. Những bài lượn cách mạng ca ngợi Bác Hồ, kêu gọi đoàn kết đánh Pháp – Nhật, được truyền miệng trong các chợ phiên, lễ hội, đám cưới. Phương pháp này vượt qua rào cản chữ viết, phù hợp với đặc điểm xã hội của người Tày Nùng, giúp ý thức cách mạng thấm sâu vào tâm thức cộng đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả từ sự tham gia của người Tày Nùng

Sự tham gia của người Tày Nùng trong Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mang lại kết quả chiến lược cho cách mạng Việt Nam. Trước hết, Cao Bằng trở thành căn cứ địa vững chắc, nơi Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo và huấn luyện lực lượng. Thứ hai, nhiều tướng lĩnh xuất thân từ Cao Bằng – như Thượng tướng Vũ Lập, Trung tướng Đàm Quang Trung, Thiếu tướng Hoàng Sâm – đều có gốc gác hoặc gắn bó mật thiết với người Tày Nùng. Thứ ba, chiến công cứu phi công Mỹ năm 1941 – do lực lượng tự vệ Việt Minh thực hiện – đã thiết lập quan hệ với Đồng minh, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của cách mạng Việt Nam. Cuối cùng, mô hình “dân – quân – chính” tại Cao Bằng trở thành bài học điển hình cho toàn quốc trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

4.1. Đóng góp của người Tày Nùng trong các chiến dịch quân sự

Từ cuối 1944, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân do người Tày Nùng tham gia đã tiêu diệt đồn Phai Khắt (25/12/1944) và Nà Ngần (26/12/1944) – hai trận đánh mở màn cho kháng chiến toàn quốc. Trong Chiến dịch Biên giới 1950, lực lượng Cao Bằng đã phối hợp đánh chiếm Đông Khê, phá tan tập đoàn cứ điểm của Pháp trên Đường số 4. Nhiều chiến sĩ Tày Nùng sau này trở thành tư lệnh quân khu, anh hùng lực lượng vũ trang, góp phần giải phóng miền Namthống nhất đất nước.

4.2. Di sản văn hóa chính trị từ phong trào giải phóng

Di sản lớn nhất là sự gắn kết giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người Tày Nùng không chỉ hy sinh xương máu mà còn góp phần xây dựng bản sắc cách mạng – nơi tình đoàn kết dân tộc được thể hiện qua hành động, không chỉ qua khẩu hiệu. Ngày nay, Pác Bó, Nà Tu, Kỳ Sầm – những địa danh gắn với hoạt động của người Tày Nùng – trở thành di tích lịch sử quốc gia, biểu tượng của tinh thần yêu nướcsức mạnh đại đoàn kết.

V. Tương lai nghiên cứu về người Tày Nùng trong Việt Nam tuyên truyền giải phóng

Mặc dù đã có nhiều tư liệu lịch sử ghi nhận vai trò của người Tày Nùng, nghiên cứu học thuật vẫn còn hạn chế về góc nhìn dân tộc học, giới tính, và ký ức cộng đồng. Trong tương lai, cần sưu tầm hồi ký, ghi âm lời kể của cựu chiến binh Tày Nùng, phân tích vai trò của phụ nữ, và so sánh mô hình Cao Bằng với các khu căn cứ khác như Việt Bắc, Tây Nguyên. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số để số hóa tài liệu, xây dựng bản đồ tương tác về hành trình cách mạng của người Tày Nùng sẽ giúp giáo dục thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về đóng góp của dân tộc thiểu số trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

5.1. Gợi ý hướng nghiên cứu học thuật mới

Các nhà nghiên cứu nên tập trung vào ký ức chiến tranh của phụ nữ Tày Nùng, mối quan hệ liên dân tộc trong lực lượng vũ trang, và tác động của địa lý văn hóa đến chiến lược du kích. Việc kết hợp sử học, nhân học và địa lý sẽ làm rõ hơn bản sắc riêng của phong trào cách mạng Cao Bằng, khác biệt so với các vùng khác.

5.2. Bảo tồn di sản thông qua giáo dục và truyền thông

Cần tích hợp câu chuyện người Tày Nùng vào chương trình giáo dục phổ thông, phim tài liệu, và bảo tàng ảo. Các tour du lịch红色 (du lịch cách mạng) tại Cao Bằng nên nhấn mạnh vai trò của người Tày Nùng, không chỉ Bác Hồ. Điều này giúp khẳng định vai trò lịch sử của dân tộc thiểu số trong diễn ngôn quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn người tày nùng tham gia việt nam tuyên truyền giải phóng quân

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu. trong các bước thành quân dội bằng 41 chữ vàng, Quin đội ta trung với đảng, hiểu với đân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nảo cũng dành thắng, sẵn sang hy sinh vì dộc lập bự do và chủ nghĩa xã hội Quả thật là một lực lượng bách chiến bách thẳng. Đứng đâu là đại tướng Võ Nguyễn Giáp được xếp vào loại danh tướng thẻ giới trong thời đại nay. Nhà thơ Tế Hữu viết Lớp cha trước, lớp ern sau Củng nhau tiến bước hát câu quân bảnht Loge: Chín năm làm một Điện Biên Làm nên lịch sử nên thiên sử váng.

Người chỉ rõ: Bây giờ thời kỳ đấu tranh bằng hoá bình đã qua. Nhưng thời kỳ toàn dân tổng khởi nghĩa chưa tôi, rêu bây giờ chúng tu hoạt động bằng chính trị sẽ không đủ mạnh, dé day phong trào tới đích. Cân phái cỏ hình thức thích hợp, phãi lâm sao? Hoạt động ở dầu, cứ ở dé dé san xuất, khỏng đễ kẻ dịch Kinng bd lam hai người hoạt động cach mang. Bác Hồ để ra: thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGTQ): Người dã chỉ thị cho đồng chỉ Võ Nguyên Giáp và déng chi Lã Bí thư liên tỉnh uý nghiên cứu rửững vấn để Bác chỉ thị Phương châm hoạt động của Hác đề ra là: ~ Tẩy Chính trị lrọng hơn quân sự - Lây tuyển truyền trọng hơn tác chiến - Lấy hoại.

động vũ trang kêu gọi toàn dân đứng đây. Chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc lông khởi nghĩa san rày Về tổ chức: Cần chọn các đội viên ưu tủ trong các lực lượng bán vũ trang ở các châu ngoài vẻ, dang tập trung ở Hà Quảng, Trang bị vũ khí lẫy từ cơ sở lên và một só vũ khí từ nước ngoài về Bac din kỹ thêm: phải đựa chắc vào din -Nắm vũng chỉ bệ là hạt nhân lãnh dạo -8au một thời gian chuẩn bị, đội VNTTGPQ được thành lập ngày /1944 ở khu rimg Hoang Hoa Tham, tổng Kim Má, buyện Nguyên Bình. Trong buổi lễ thành lập, sau khi quán triệt chí thị của Hỗ CHủ Tịch, 34 chiến sĩ được chọn lọc đã tuyên thẻ đưới lá cờ đổ sao vàng vào đúng 17 gio ngày 22/12/1944 Tời thể đanh thép rưng động cả múi rùng. Trong đó người Tây Nùng Cao Bằng có 30 người Su ra doi cla ¡ VNTTGPQ là một bước ngoặt trên con đường đâu tranh cách mạng, của đân tộc Việt Mam.

Bàc Hỗ nói: dây là một quản đội tuy nhỏ nhưng rất về vang, 1ä tiên thân của quân dội cá nước, nỏ sẽ di từ Bắc tới Nam, mong sao có nhiễu dội dan em nối tiếp 'Thực hiện 10 lời thể, mới ra quân VW'TTGEQ đã lập chiến công vang dội. Ngày 25/12/1944 điệt đân Phai Khắt Ngày 26/12/1944 diệt đến Nà Ngắn Người chỉ rõ: Bây giờ thời kỳ đấu tranh bằng hoá bình đã qua. Nhưng thời kỳ toàn dân tổng khởi nghĩa chưa tôi, rêu bây giờ chúng tu hoạt động bằng chính trị sẽ không đủ mạnh, dé day phong trào tới đích. Cân phái cỏ hình thức thích hợp, phãi lâm sao? Hoạt động ở dầu, cứ ở dé dé san xuất, khỏng đễ kẻ dịch Kinng bd lam hai người hoạt động cach mang.

Bác Hồ để ra: thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGTQ): Người dã chỉ thị cho đồng chỉ Võ Nguyên Giáp và déng chi Lã Bí thư liên tỉnh uý nghiên cứu rửững vấn để Bác chỉ thị Phương châm hoạt động của Hác đề ra là: ~ Tẩy Chính trị lrọng hơn quân sự - Lây tuyển truyền trọng hơn tác chiến - Lấy hoại. động vũ trang kêu gọi toàn dân đứng đây. Chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc lông khởi nghĩa san rày Về tổ chức: Cần chọn các đội viên ưu tủ trong các lực lượng bán vũ trang ở các châu ngoài vẻ, dang tập trung ở Hà Quảng, Trang bị vũ khí lẫy từ cơ sở lên và một só vũ khí từ nước ngoài về Bac din kỹ thêm: phải đựa chắc vào din -Nắm vũng chỉ bệ là hạt nhân lãnh dạo -8au một thời gian chuẩn bị, đội VNTTGPQ được thành lập ngày /1944 ở khu rimg Hoang Hoa Tham, tổng Kim Má, buyện Nguyên Bình. Trong buổi lễ thành lập, sau khi quán triệt chí thị của Hỗ CHủ Tịch, 34 chiến sĩ được chọn lọc đã tuyên thẻ đưới lá cờ đổ sao vàng vào đúng 17 gio ngày 22/12/1944 Tời thể đanh thép rưng động cả múi rùng.

Trong đó người Tây Nùng Cao Bằng có 30 người Su ra doi cla ¡ VNTTGPQ là một bước ngoặt trên con đường đâu tranh cách mạng, của đân tộc Việt Mam. Bàc Hỗ nói: dây là một quản đội tuy nhỏ nhưng rất về vang, 1ä tiên thân của quân dội cá nước, nỏ sẽ di từ Bắc tới Nam, mong sao có nhiễu dội dan em nối tiếp 'Thực hiện 10 lời thể, mới ra quân VW'TTGEQ đã lập chiến công vang dội. Ngày 25/12/1944 điệt đân Phai Khắt Ngày 26/12/1944 diệt đến Nà Ngắn Tuy địch ở dây dược trang bị vũ khí đây đủ, địa điểm hiểm trả, nhưng không sao đố nếi những đợt tiến công bắt ngờ của tạ Các chiến sĩ TTGPQ với một tính than đũng cảm, mưu trí, lại được nhân dan dja phương che chở dã giành chiến thắng rực rỡ, thực hiện dược lời căn dặn: Đã ra quân là thắng, Nó là một tác đụng lớn lao quyết định tương lai của đội, gầy được một tiếng vang, trong nước và vang đội ra nước ngoài, đạt được mục đích tuyên truyền là kêu gọi toàn. cân nổi dậy, làm cho nước ngoái chú y toi công cuộc chồng phát xit của Việt Nam.

Chiến thắng Phai Khải, Nà Ngân đã gây ra sự hoang mang lo sợ trong hàng ngữ địch, cổ vũ tỉnh thân cách mạng, gấp rút chuẩn bị moi mặt, chuẩn bị đợi thời cơ vùng đậy phá xiêng xích áp bức của thực đân vả phong kiên Chiến thẳng Phai Khắt, Nà Ngàn làm sáng rục ý chị, bách chiến bách thắng của đội quân cách mang. Cuối năm 1944 bước đầu ta chuyển sang thé tấn công địch. Huộc địch phải tăng cường quân số và lập nhiều đồn bốt để đối phó với cách mạng, Sự lớn mạnh của các lực lượng vũ trang qua các chiến thang *Phai Khắt, Nà Ngần: những mốc son dang nhớ. Thực hiện lời giáo huấn của Bác Hồ: “Mong sao có nhiều đội đản em: liếp nói”, vào đầu năm 1944(tứe là chiehrra đầy một tháng), trước tình hình phát triển thuận lợi, Tan Liên tính trẻ đã quyết định: - Các dội vũ trang châu chuyển thành quân giải phỏng.

Huyện Quảng Liyên và Trùng Khánh giải phóng quân được thành lập hoạt động ở phía đông" - Ngày 28/2 dành dễn Đồng Mu (Báo Lạc). Một ông chỉ hy sinh trở thành người hết sĩ dầu tiên của quản đội nhân đân Việt Nam - do la déng chi Xuân Trường. Ta thu 5 súng, bắt 3 tù bình, điệt 20 lên. Sau đó hành quân về huyện Nguyễn Bình, đánh phục ở Ben Te (đường 3), bắt gọn1 trưng đội.

- Thời cơ có một không hai, cuộc đáo chỉnh ngảy 9/3/1945 Nhật Pháp đã mang lai một sự dột biên về tổ chức giải phóng, quần. Đứng trong đêm 9/3/1945, tư lệnh Nhật Bản ở Hà Nội mời toàn quyền Pháp Đờ Cu đên dự đạ tiệc có cả một đoàn tuỳ tùng, Bữa tiệc chưa vân, Nhật bắt Đờ Cu đầu hàng LÍ chsử đầu tranh vũ trang Cao Bễ ng, tr.62-63 Vĩnh dự cho Cao Bằng là nơi khai sinh ra VXTTGPO, tiến thân sủa QĐND ngày nay. Một số nhà sử học đã khái quát cho Cao Bằng như sau (hội thảo chiến địch biên giới 1985 ở Cao Bằng): ‘Trong bổn cái bảo bối của CMVN là Đảng-Mặt trận- Quân đội-Chính quyền: Pang CSVN sinh ra ở Ma Cao-Trung Quốc Mặt trận, tiễn thân Mặt trận Lỗ quốc Việt Nam ngày nay sinh ra 6 Khudi Nam, Pac Bo, Cao Bằng, Quân đôi sinh ra ở xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng Chỉnh quyền sinh ra ở Hà Nội Không có một nơi nào trên cả nước nhì Cao Bằng đã chiếm được 2 bão hỏi, được cả nước tôn vinh. Song nhân dân Cao bằng còn khiém tổn chưa ai dám nhận vĩnh dự nảy.

'Lắt cả đều lá công lao vĩ đại của chủ tịch Lể Chí Minh đã để lại cho Cao Bing. Từ 25/12/1944 cho đến Cách mạng tháng Tám thành công, một thời gian chưa đây tam thang ma phát triển nhanh như vậy. Dúng như lời đặn của 116 Chui Tịch là một đội quân nhỏ nhưng tiên đồ rảt vẻ vang, nó cé thé đi suốt Bắc Mam, mong sao có những đội đàn em tiếp nỗi. Từ những đội tự về, du kích tập trung tiêu lầu VNTTGPQ Sau chiến thắn Phai Khắt, Nả Ngân quân số đã lên tới Đạt đội giải phóng quân.

Pan nam 1945 Ban liên tĩnh nỹ đã ra chỉ thị tất cả các đội vũ trang thoát ly các chân trở thànhgiãi phóng quân đánh nhô lẽ khắp cả tỉnh ở Nguyên Binh, Quang LJyên, điệt đến Dễng Mu huyện Bảo Lạc. Đến ngày 9/3/1945 sau cuộc đảo chính Pháp Nhật cả một đạo quân bình thủ hai của Pháp sup dé trong 24 giờ. Đố giải giáp, thu 4000 súng các loại Đây là mội mốc son bước ngoặt nhây vọt. Từ đây đã có 5 chỉ đội giải phỏng quân Đông tiến, Tây Tiền, Nam tiên hỗ trợ thủ đê và một số nơi khác trong tống khởi nghĩa Từ ban dầu một dội 34 người cỏ 30 khẩu súng, sinh ra ở một ving mui rang héo lánh, sau 2/9/1945 lừng bước đã có.

trung doan, siz doin, qufin doa to cae binh ching, quan chủng, không quân, hãi quân hiện đại. Hàng Hiệu chiến sĩ đánh 3 tên để quốc lớn là Nhật, Pháp, Mỹ. Trong 10 năm chẳng Pháp, 10 năm chồng Mỹ, chống Nhật giang sơn một mỗi. Một chỉ đội do đồng chỉ Chí Linh (Khau Han) trong đó có cả dồng chi Hoàng, Đình Giọng tiến về Hà Đông, sau đó vào chỉ viên cho miễn Nam khi Pháp mới gây hấn ỡ Nam Bộ tháng 8/1945.

Đông chi Hoàng Đỉnh Giong từ cách mạng tháng Tám là ar lệnh Nam Bộ, Còn nhiều tếp di lé khắp mọi miễn đã trở thành tưởng, lĩnh, tư lệnh các quân khu nữ - Trưng tướng Bằng Giang tư lệnh quân khu 1 - Thượng tướng Vũ Lập tr lệnh quân khu TĨ - Thượng tướng Dảm Quang Irung tư lệnh quân khu 5 + Trung tướng Nam Long vién pho học viện cao cấp quân đội - Thiếu tưởng 1loảng Sâm bư lệnh quân khu II (vên là người Kinh làm ăn ở Cao Bang) - Trung tudng Đảm Nguy quân khu Ï Và còn nhiều người khác vĩnh viễn không vẻ vả biết bao nhiều người vô danh khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ