Luận văn người làm chứng và bảo vệ trong tố tụng hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu người làm chứng và các biện pháp bảo vệ trong tố tụng hình sự Việt Nam. Phân tích quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2018

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về người làm chứng và bảo vệ trong tố tụng hình sự

Trong hệ thống tố tụng hình sự Việt Nam, người làm chứng giữ vai trò then chốt trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Theo Luận văn Thạc sĩ Luật học của Lê Đình Nhất (2018), người làm chứng là cá nhân biết được những tình tiết liên quan đến vụ án và được cơ quan có thẩm quyền triệu tập để khai báo. Sự hiện diện và lời khai trung thực của họ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, nhiều người e ngại tham gia do lo sợ bị trả thù, kỳ thị hoặc phiền hà pháp lý. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết phải hiểu rõ địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của người làm chứng, cũng như các biện pháp bảo vệ người làm chứng được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015. Việc nâng cao nhận thức pháp lý không chỉ giúp người dân thực hiện tốt nghĩa vụ công dân mà còn góp phần củng cố niềm tin vào công lý và bảo vệ quyền con người trong tố tụng.

1.1. Người làm chứng là ai theo pháp luật Việt Nam

Theo Điều 60 BLTTHS 2015, người làm chứng là người biết được tình tiết liên quan đến vụ án và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập. Họ không thuộc các trường hợp được miễn làm chứng như người có quan hệ hôn nhân, huyết thống với bị can, bị cáo. Đặc biệt, người làm chứng không chịu trách nhiệm hình sự nếu khai báo trung thực, ngay cả khi lời khai đó gây bất lợi cho bị can. Đây là điểm tiến bộ so với BLTTHS 2003, thể hiện tinh thần bảo vệ quyền con người và khuyến khích hợp tác với cơ quan tố tụng.

1.2. Vai trò then chốt của người làm chứng trong tố tụng hình sự

Người làm chứng cung cấp thông tin thực tế, giúp cơ quan điều tra, truy tố và xét xử xác định đúng bản chất vụ án. Trong nhiều vụ án không có vật chứng rõ ràng, lời khai của người làm chứng trở thành căn cứ quan trọng để kết luận. Tuy nhiên, theo số liệu từ TAND tỉnh Hà Tĩnh (2013–2017), tỷ lệ người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa vẫn còn cao, chủ yếu do lo sợ bị trả thù hoặc thiếu niềm tin vào cơ chế bảo vệ người làm chứng. Điều này làm giảm tính khách quan và hiệu lực của bản án.

II. Những thách thức lớn khi bảo vệ người làm chứng hiện nay

Mặc dù BLTTHS 2015 đã quy định rõ các biện pháp bảo vệ người làm chứng, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập. Một trong những vấn đề nổi cộm là thiếu cơ chế cụ thể để triển khai các biện pháp bảo vệ như thay đổi nơi cư trú, che giấu danh tính, hoặc bảo vệ thân thể. Theo nghiên cứu của Lê Đình Nhất (2018), nhiều địa phương chưa có quy trình chuẩn để tiếp nhận và xử lý yêu cầu bảo vệ, dẫn đến tình trạng người làm chứng bị đe dọa sau khi khai báo. Ngoài ra, ý thức pháp luật của một bộ phận cán bộ tố tụng còn hạn chế, chưa coi trọng việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người làm chứng. Điều này làm suy giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống tư pháp và cản trở việc thu thập chứng cứ khách quan. Các yếu tố tâm lý xã hội, như nỗi sợ bị trả thù hoặc kỳ thị cộng đồng, cũng là rào cản lớn khiến người dân ngại tham gia tố tụng.

2.1. Hạn chế trong quy định pháp luật về bảo vệ người làm chứng

Mặc dù Điều 50 BLTTHS 2015 liệt kê các biện pháp bảo vệ người làm chứng, nhưng thiếu hướng dẫn chi tiết về thẩm quyền, trình tự và nguồn lực thực hiện. Ví dụ, việc thay đổi nơi cư trú hoặc danh tính đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, nhưng chưa có văn bản liên ngành quy định rõ trách nhiệm. Điều này dẫn đến tình trạng “biết mà không làm được”, khiến người làm chứng rơi vào tình thế nguy hiểm sau khi cung cấp thông tin.

2.2. Rào cản tâm lý và xã hội khiến người làm chứng e ngại

Theo bài viết của Đinh Tuấn Anh (2008) trên Tạp chí Kiểm sát, yếu tố tâm lý xã hội như sợ bị trả thù, lo mất việc làm, hoặc bị cô lập trong cộng đồng là nguyên nhân chính khiến người làm chứng từ chối hợp tác. Đặc biệt ở vùng nông thôn, nơi quan hệ làng xã chặt chẽ, việc “tố cáo” ai đó dễ bị coi là phản bội. Nếu không có cơ chế bảo vệ người làm chứng hiệu quả, những rào cản này sẽ tiếp tục làm suy yếu năng lực phát hiện và xử lý tội phạm.

III. Phương pháp bảo vệ người làm chứng hiệu quả theo luật hiện hành

Để bảo vệ người làm chứng một cách hiệu quả, cần vận dụng đúng và đầy đủ các biện pháp pháp lý được quy định trong BLTTHS 2015. Các biện pháp này bao gồm: bảo vệ thân thể, che giấu thông tin cá nhân, thay đổi nơi cư trú, và thậm chí sử dụng biện pháp kỹ thuật đặc biệt như làm chứng qua màn hình. Quan trọng hơn, cần có quy trình rõ ràng để người làm chứng hoặc người đại diện hợp pháp có thể yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ ngay từ giai đoạn điều tra. Cơ quan có thẩm quyền – thường là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án – phải xem xét và ra quyết định trong thời hạn hợp lý. Việc phối hợp giữa các cơ quan tố tụng và lực lượng công an là yếu tố then chốt để đảm bảo tính khả thi. Ngoài ra, cần nâng cao năng lực cho cán bộ tư pháp trong việc nhận diện nguy cơ và chủ động đề xuất biện pháp bảo vệ người làm chứng phù hợp với từng vụ án cụ thể.

3.1. Các biện pháp bảo vệ người làm chứng được luật quy định

Điều 50 BLTTHS 2015 quy định 5 biện pháp bảo vệ người làm chứng, bao gồm: (1) bảo vệ thân thể; (2) bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; (3) giữ bí mật thông tin cá nhân; (4) thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc; (5) biện pháp khác theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, để các biện pháp này phát huy hiệu lực, cần có hướng dẫn thi hành cụ thể và nguồn lực tài chính – nhân sự đảm bảo. Ví dụ, việc thay đổi nơi cư trú đòi hỏi ngân sách và sự phối hợp giữa công an các địa phương.

3.2. Thủ tục yêu cầu và áp dụng biện pháp bảo vệ

Người làm chứng hoặc người đại diện hợp pháp có quyền gửi đơn yêu cầu bảo vệ đến cơ quan tiến hành tố tụng. Cơ quan này phải xem xét và ra quyết định trong thời hạn 03 ngày. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều đơn bị bỏ qua do thiếu nhận thức hoặc e ngại thủ tục phức tạp. Do đó, cần đơn giản hóa quy trình và tăng cường truyền thông pháp luật để người làm chứng biết rõ quyền của mình và cách thực hiện.

IV. Ứng dụng thực tiễn và bài học từ địa bàn Hà Tĩnh

Nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Hà Tĩnh (2013–2017) cho thấy những kết quả tích cực cũng như hạn chế rõ rệt trong việc thực hiện chế định người làm chứng và bảo vệ người làm chứng. Theo số liệu từ TAND tỉnh Hà Tĩnh, số vụ án hình sự tăng hàng năm, nhưng tỷ lệ người làm chứng tham gia đầy đủ tại phiên tòa chỉ đạt khoảng 65%. Nguyên nhân chính là do cơ chế bảo vệ người làm chứng chưa được triển khai đồng bộ. Tuy nhiên, một số vụ án nghiêm trọng như buôn bán người, ma túy đã áp dụng thành công biện pháp che giấu danh tính và làm chứng từ xa, góp phần nâng cao hiệu quả xét xử. Bài học kinh nghiệm từ Hà Tĩnh cho thấy: cần có kế hoạch bảo vệ người làm chứng ngay từ đầu vụ án, sự phối hợp liên ngành chặt chẽ, và đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho cán bộ tố tụng về kỹ năng đánh giá rủi ro và áp dụng biện pháp bảo vệ phù hợp.

4.1. Kết quả đạt được trong thực tiễn tố tụng tại Hà Tĩnh

Tại Hà Tĩnh, một số vụ án ma túy và buôn người đã áp dụng thành công biện pháp bảo vệ người làm chứng như làm chứng qua màn hình và thay đổi nơi cư trú. Điều này giúp người làm chứng vượt qua nỗi sợ và cung cấp thông tin trung thực, góp phần kết án chính xác các đối tượng nguy hiểm. Thành công này xuất phát từ sự chủ động của cơ quan điều tra và sự phối hợp với công an địa phương.

4.2. Hạn chế và nguyên nhân từ thực tiễn địa phương

Tuy nhiên, đa số vụ án thông thường tại Hà Tĩnh vẫn chưa áp dụng biện pháp bảo vệ người làm chứng, chủ yếu do thiếu hướng dẫn cụ thể, nguồn lực hạn chế và nhận thức chưa đầy đủ của cán bộ. Nhiều người làm chứng phải tự đối mặt với đe dọa sau khi khai báo, dẫn đến tâm lý e dè trong cộng đồng. Đây là bài học cảnh tỉnh về sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế bảo vệ trên toàn quốc.

V. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người làm chứng

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ người làm chứng, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng cụ thể hóa các biện pháp bảo vệ, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan. Trước hết, nên ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 50 BLTTHS 2015, trong đó quy định rõ trình tự, thời hạn, nguồn lực và phối hợp liên ngành. Thứ hai, cần bổ sung quyền yêu cầu bồi thường cho người làm chứng nếu bị thiệt hại do tham gia tố tụng. Thứ ba, nên thành lập đơn vị chuyên trách về bảo vệ người làm chứng tại cấp tỉnh, trực thuộc công an hoặc viện kiểm sát. Cuối cùng, cần tăng cường truyền thông pháp luật để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ khi làm chứng, đồng thời xây dựng niềm tin vào hệ thống tư pháp. Những giải pháp này không chỉ bảo vệ quyền con người mà còn góp phần nâng cao hiệu lực đấu tranh phòng chống tội phạm.

5.1. Đề xuất sửa đổi bổ sung BLTTHS về bảo vệ người làm chứng

Cần bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường nếu người làm chứng bị thiệt hại do cơ quan tố tụng không thực hiện biện pháp bảo vệ kịp thời. Đồng thời, nên mở rộng quyền miễn trừ làm chứng trong một số trường hợp đặc biệt để tránh xung đột đạo đức. Ngoài ra, cần quy định rõ thời điểm áp dụng biện pháp bảo vệ – ngay khi có dấu hiệu đe dọa, chứ không chờ đến khi xảy ra hậu quả.

5.2. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả

Việc bảo vệ người làm chứng đòi hỏi sự phối hợp giữa công an, viện kiểm sát, tòa án và chính quyền địa phương. Do đó, nên ban hành quy chế phối hợp liên ngành cấp tỉnh, trong đó phân công rõ vai trò, trách nhiệm và quy trình xử lý. Đồng thời, cần bố trí ngân sách riêng cho hoạt động này để đảm bảo tính bền vững và khả thi.

VI. Tương lai của chế định người làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trong bối cảnh cải cách tư phápbảo vệ quyền con người ngày càng được chú trọng, chế định người làm chứng sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nhân đạo hóahiệu quả hóa. Xu hướng quốc tế cho thấy nhiều nước đã áp dụng công nghệ số như làm chứng ảo, mã hóa dữ liệu, và hệ thống cảnh báo sớm để bảo vệ người làm chứng. Việt Nam cần tiếp cận các mô hình này, đồng thời xây dựng văn hóa pháp lý coi trọng vai trò của người làm chứng như một cộng sự của công lý. Tương lai của tố tụng hình sự Việt Nam phụ thuộc lớn vào khả năng tạo dựng môi trường an toàn, minh bạch và tôn trọng quyền con người cho mọi người tham gia tố tụng, trong đó có người làm chứng.

6.1. Xu hướng quốc tế trong bảo vệ người làm chứng

Nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Úc đã xây dựng chương trình bảo vệ người làm chứng chuyên biệt, với ngân sách và lực lượng riêng. Họ sử dụng công nghệ cao để che giấu danh tính và giám sát an ninh. Việt Nam có thể học hỏi mô hình này, đặc biệt trong các vụ án xuyên quốc gia hoặc liên quan đến tổ chức tội phạm nguy hiểm.

6.2. Định hướng phát triển trong cải cách tư pháp Việt Nam

Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030 nhấn mạnh bảo vệ quyền con ngườităng cường minh bạch. Trong bối cảnh đó, chế định người làm chứng cần được xem là một phần cốt lõi của hệ thống tố tụng hình sự hiện đại. Việc đầu tư vào cơ chế bảo vệ người làm chứng không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là cam kết chính trị với công lý và sự thật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn người làm chứng và bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SÓ VẤN DE LÝ LUẬN VẺ NGƯỜI LÀM CHUNG vA BAO VE NCU ‘OL LAM CHỨNG TRÔNG TỔ T UNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm người làm chứng, đặc điểm của người làm ching trong tố tụng hình sự 111 Khải niệm người làm chứng 1.2 Đặc điểm của người làm chứng .13 Những người không được làm chứng. Khái niệm bảo vệ người làm chúng và ý nghĩa của việc bảo vệ người làm chứng trong tổ tụng hình sự. 121 Khai niệm vỀ bảo về người làm chứng 1.

Ý nghĩa của việc bảo vệ người làm chứng trong tố tưng hình sự 1. Các biện pháp bảo vệ người làm chứng trong tổ tụng hình sự. 131 Những biện pháp chưng 132 Những biện pháp bảo vệ người làm chứng trong giai đoạn khởi tổ và giai đoạn điều tra vụ án 1.3 Những biện pháp bảo vệ người làm chứng ở giai doan xét xứ 1. Người làm chứng và bảo qgười làm chứng trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới.

141 Trong pháp luật tổ tụng Công hòa -Pháp .42 Trong pháp luật Tế tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức. 143 ‘Trong phap hnat ‘4 tung hinh su Céng héa Lién bang Nga. 144 Trong pháp luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ Kết luận Chương 1. nay, khi mà Đảng, Nhà nước va Nhân đần quan tâm nhiều đến bảo vệ cơn người, tìm ra sự thật vụ ản.

Các nghiễn cứu về chế dịnh người lảm chứng, biện pháp bảo vệ người làm chứng cũng như các quy định pháp luật về vấn đề này được dỀ cập ở rất nhiều công trỉnh nghiên cửu với nhiều hình thức khác nhau như: Bài viết tạp chí, chuyên để nghiên cứu, luận văn. rong quá trình thực hiện để tài này, tác giả có tham khảo một sé công trình nghiên cứu tiêu biểu và từ dé dita ra quan diam của cá nhân mình, cụ thể như sau - Nguyễn Thái Phúc (2007), “Bão vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tổ tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3 (40). Bài viết phân tích khá kỹ về các biện pháp chung để bảo vệ người làm chứng, và các biện pháp bảo vệ người làm chứng trong giai đoạn khổi tố, điều tra vụ án và giai đoạn xót xử vụ án. - Dinh Tuấn Anh (4/2008), "Miệt số vấn đề cần chú ý về yếu tế tâm lý xã hội của người làm chứng”, Tựp chí Kiểm sát, số 7.

Hài viết phân tích các yếu tổ ánh hướng dến tâm lý của người làm chứng, ly giải nguyên nhân người làm chứng không ra tòa làm chứng hoặc việc làm chứng không có hiệu quả do các lác đông khác -_ Trần Đỉnh Nhã (2010), “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo về người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12 - Trần Thị Thủy Lương (2011), Bảo vệ guyễn con người của người làm chứng trong pháp luật tổ tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn dã khai thác vẫn để bảo vê quyền con người của người làm chứng trong tổ tụng hình sự, phân tích các quy định bảo về quyền con người của người làm chứng trong luật tố tụng hình sự 2003 và nêu lên một số giải pháp nâng cao hiệu quả bao vệ quyền cơn người của người làm chứng. Người tố giác, người làm chứng, người bị hại có vai trỏ rất quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự. Thông tin mà họ cung cấp là nguẫn chứng cứ giúp cơ quan tiến hành tổ tụng giải quyết đúng đến vụ án Tuy nhiên, khi thông tin mã họ cưng cấp cỏ giá trị chứng mỉnh cảng cao thỉ nguy cơ họ bị bọn tôi phạm đe doa, xâm hai dén tinh mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ cảng lớn.

Vì vậy, việc bảo vệ họ cũng như người thân thích của họ khi bi de dọa dến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tải sản, đặc biệt là khi chỉ vì họ tích cực cộng tác với cơ quan tiến thành tổ Lụng hình sự trong vụ án hình sự, là trách nhiệm của tất cả cde co quan Nhà nước, trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nỏng cốt. Tuy nhiên, thực tiễn có trường hợp người bị hại, người làm chứng, thậm chí người thân của họ bị đo dọa, trả thủ nếu khai báo đúng sự thật khách quan của vụ án. l2o vậy, việc nghiên cứu lý luận về bảo vệ người làm chứng đề hoàn thiện cơ chế pháp lý về bản vệ và bảo dam cho người bị hại, người làm chứng thực hiện các quyền vả nghĩa vụ của mình trong vụ án hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc xét xử đúng người, đủng tội, đúng pháp luật và ra những bản án, quyết định đứng pháp luật, có sức thuyết phục vả trong thời hạn quy dinh Tloan thiện các quy định pháp luật TTII§ về người làm chứng và bảo về người làm chứng dang dặt ra nhiều vấn để quan trọng về lý luận và thực tiễn, chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Người làm chứng và bảo vệ người làm chứng trong tô tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn cao học của mình qua dé gop một số kiến nghị vào việc dâm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về người làm chứng và bảo vệ người làm chứng. Tình hình nghiên cứu liên quan đến để tài luận văn Vận đề “Người làm chứng và bảo vệ người làm chứng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” có vai trỏ quan trọng, đặc biệt trong tiến trình hiện nw DANII MỤC CHỮ VIẾT TẤT BLH8: Bộ luật hình sự BLTTTIS Bộ luật tổ tụng hình sự HĐXX: Hội đẳng xét xử NLC: Người làm chứng, TTHS Té tung hinh sur MỞ ĐẦU 1.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình phức tạp, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tổ tụng phải phát huy vai trò của những người tham gia tổ tụng, trong đó đặc biệt quan trọng là người làm chứng. Người làm chứng là người biết được những tỉnh tiết liên quan đến vụ án được cơ quan và người có thắm quyền triệu tập làm chứng. 8ự có mặt của người làm chứng tai các cơ quan tiễn hành tổ tụng, đặc biệt là tại phiên tỏa và sự khai báo dầy dủ, trung thực của người bị hại, người làm chứng có ý nghĩa rất quan trọng dối với việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Chế định về người lâm chứng ở nước ta đã trải qua những thăng trằm nhất định.

I1iện nay, các quy định về người làm chứng trong tố tụng hình sự cên nhiều vấn đề chưa cụ thể, bất cập khiến người làm chứng phải e đè hoặc ngại phiền phức khi tham gia tố tụng, trốn tránh việc làm chứng, ánh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, trật tự an toàn xã hội. Nhà nước ta đã ban hành và sửa đối theo hướng ngày càng hoàn thiện các chế định về người làm chứng trong Bộ luật TTHS§ và một số văn bản liên quan. Theo dé, chế định người làm chứng đã có những vân đông thay đối theo hướng nhân đạo hóa mỗi quan hệ giữa Nhả nước với người làm chứng, mở rộng quyền của họ và những biện pháp hảo dam té tung cho các quyền do Tuy nhiên, việc quy dinh về địa vị pháp lý của người làm chứng trong BLTTHS nim 2003 va năm 2015 vẫn chưa tạo cơ sở pháp lý phủ hợp dé khuyến khích người làm chứng tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của mình - hợp tác với Nhà nước trong đầu tranh phòng chống tôi phạm và xáo mình sự thật khách quan của vụ án - chưa thực sự bảo đảm các quyên, lợi ích chính đáng của người làm chứng. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình phức tạp, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tổ tụng phải phát huy vai trò của những người tham gia tổ tụng, trong đó đặc biệt quan trọng là người làm chứng.

Người làm chứng là người biết được những tỉnh tiết liên quan đến vụ án được cơ quan và người có thắm quyền triệu tập làm chứng. 8ự có mặt của người làm chứng tai các cơ quan tiễn hành tổ tụng, đặc biệt là tại phiên tỏa và sự khai báo dầy dủ, trung thực của người bị hại, người làm chứng có ý nghĩa rất quan trọng dối với việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Chế định về người lâm chứng ở nước ta đã trải qua những thăng trằm nhất định. I1iện nay, các quy định về người làm chứng trong tố tụng hình sự cên nhiều vấn đề chưa cụ thể, bất cập khiến người làm chứng phải e đè hoặc ngại phiền phức khi tham gia tố tụng, trốn tránh việc làm chứng, ánh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, trật tự an toàn xã hội.

Nhà nước ta đã ban hành và sửa đối theo hướng ngày càng hoàn thiện các chế định về người làm chứng trong Bộ luật TTHS§ và một số văn bản liên quan. Theo dé, chế định người làm chứng đã có những vân đông thay đối theo hướng nhân đạo hóa mỗi quan hệ giữa Nhả nước với người làm chứng, mở rộng quyền của họ và những biện pháp hảo dam té tung cho các quyền do Tuy nhiên, việc quy dinh về địa vị pháp lý của người làm chứng trong BLTTHS nim 2003 va năm 2015 vẫn chưa tạo cơ sở pháp lý phủ hợp dé khuyến khích người làm chứng tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của mình - hợp tác với Nhà nước trong đầu tranh phòng chống tôi phạm và xáo mình sự thật khách quan của vụ án - chưa thực sự bảo đảm các quyên, lợi ích chính đáng của người làm chứng. Người tố giác, người làm chứng, người bị hại có vai trỏ rất quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự. Thông tin mà họ cung cấp là nguẫn chứng cứ giúp cơ quan tiến hành tổ tụng giải quyết đúng đến vụ án Tuy nhiên, khi thông tin mã họ cưng cấp cỏ giá trị chứng mỉnh cảng cao thỉ nguy cơ họ bị bọn tôi phạm đe doa, xâm hai dén tinh mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ cảng lớn.

Vì vậy, việc bảo vệ họ cũng như người thân thích của họ khi bi de dọa dến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tải sản, đặc biệt là khi chỉ vì họ tích cực cộng tác với cơ quan tiến thành tổ Lụng hình sự trong vụ án hình sự, là trách nhiệm của tất cả cde co quan Nhà nước, trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nỏng cốt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ