chương I, công trình đã khái quát hoạt động của trường Quân y sĩ Việt Nam trong giai đoạn (1949-1957), trong đó có 5 năm trong cuộc kháng chiến chống Pháp và 2 năm trong hoàn cảnh hòa bình. Chương II, công trình đã khái lược được hoạt động của trường Sĩ quan Quân y - Viện nghiên cứu y học quân sự trong những năm miền Bắc xây dựng CNXH và bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1957-1966). Trong giai đoạn này, công trình đã nêu lên một trong những thành tựu đạt được của trường là phối hợp với trường Đại học Y dược khoa tổ chức các lớp y cao đầu tiên nhằm đào tạo đội ngũ bác sĩ đa khoa. Chương III, nêu được quá trình hoạt động của trường Đại học Quân y trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó tác giả nhấn mạnh một trong những đặc điểm của nhà trường trong giai đoạn này là “nhà trường gắn liền với chiến trường“, đồng thời nêu được đây là giai đoạn trường Đại học Quân y mở những lớp đào tạo học viên quân y đầu tiên giúp nước bạn Lào.
Như vậy, công trình đã khái quát được cơ cấu tổ chức, hoạt động của trường qua nhiều lần thay đổi tên gọi với những nét cơ bản nhất. Từ đó, khẳng định được vai trò của trường đối với công tác đào tạo cán bộ y tế cho quân đội để phối hợp với lực lượng dân y thực hiện chăm sóc sức khỏe nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Công trình Lịch sử Viện quân y 103 (1950-2000) do Học viện quân y biên soạn, được Nxb Quân đội Nhân dân; Hà Nội ấn hành năm 2000. Công trình đã ghi lại những hoạt động chính với những bước ngoặt, những sự kiện quan trọng mà bệnh viện quân y 103 đã trải qua.
Nội dung của công trình gồm: sự ra đời của Viện quân y với cơ sở ban đầu là đội điều trị 3 được xây dựng và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp; hoạt động của Viện quân y trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thống nhất nước nhà. Có thể nói, công trình giúp tác giả tham khảo các hoạt động khám và điều trị của viện, từ đó làm rõ hơn nữa hoạt động của ngành y tế ở miền Bắc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Công trình Lịch sử bệnh viện phòng không không quân (lưu hành nội bộ) của Nxb Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 2000. Công trình ghi lại quá trình xây dựng và trưởng thành trong phục vụ chiến đấu, điều trị thương bệnh binh của bệnh viện phòng không, không quân trong suốt chặng đường lịch sử với nhiều biến động và đã giành được nhiều thắng lợi.
Tác giả khẳng định sự trưởng thành và phát triển của bệnh viện gắn với tiến trình lịch sử của dân tộc, từ đó khẳng định được vị thế của bệnh viện với nhiệm vụ chăm sóc và chữa trị cho thương, bệnh binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 11 Công trình “Lịch sử bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (1951-2001) (lưu hành nội bộ); Tổng cục hậu cần Bệnh viện Trung ương quân đội 108; Nxb Quân đội Nhân dân; Hà Nội, 2001. Cuốn sách khắc họa lại quá trình xây dựng và trưởng thành của Bệnh viện 108 với nhiều lần thay đổi tên gọi. Tiền thân của bệnh viện 108 là bệnh viện Thủy Khẩu2, sau đó được đổi thành phân viện 8 phục vụ chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950, bệnh viện Đồn Thủy và trở thành bệnh viện 108.
Công trình dành 2 chương (chương II và chương III) để khắc họa quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của bệnh viện. Trong chương II, các tác giả đã khái quát được cơ cấu tổ chức và hoạt động của bệnh viện trong điều kiện hòa bình. Các tác giả khẳng định trong 10 năm (1951-1961), bệnh viện đã xây dựng tổ chức từ sơ khai đến chính quy, từ cơ sở điều trị quy mô nhỏ tiến tới thành một bệnh viện lớn. Trải qua 10 năm xây dựng, bệnh viện 108 đã thiết lập được tổ chức thích hợp, phong phú, đa khoa và đã tích lũy được nhiều kiến thức kinh nghiệm chuyên môn, từng bước giải quyết được nhiều loại chấn thương, nhiều bệnh nguy hiểm bằng những kĩ thuật phức tạp.
Trong chương III, quá trình chấn chỉnh tổ chức, nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng nhiệm vụ trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai ở miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam của bệnh viện được các tác giả tập trung làm rõ. Chính vì vậy, tham khảo công trình, tác giả có thể sử dụng được nguồn sử liệu có giá trị về hoạt động chăm sóc sức khỏe của bộ đội và nhân dân, nhất là những thành tựu y tế đạt được của bệnh viện 108 trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Công trình Lịch sử kết hợp quân dân y Việt Nam (1945-2000) của Nxb Y học; Hà Nội, 2006. Đây là công trình nghiên cứu khoa học của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng phối hợp nhằm làm rõ hoạt động phối hợp giữa ngành y tế quân đội nhân dân (quân y) và y tế nhân dân (dân y) trong tiến trình lịch sử dân tộc.
Công trình được chia thành 4 chương, mỗi chương các tác giả chia thành các mục nhỏ để đi sâu phân tích sự phối hợp giữa quân y và dân y trong mỗi giai đoạn lịch sử. Trong mỗi mục, các tác giả tập trung phân tích sự phối hợp giữa quân y và dân y trên các nội dung như: phối hợp trong hoạt động đào tạo, trong hoạt động khám và điều trị. Theo đó, mỗi một giai đoạn lịch sử, sự phối hợp quân dân y được thực hiện khác nhau nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là khám chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân. Công trình đã mang lại những giá trị khoa học giúp tác giả tiếp cận chi tiết một số sự kiện y tế đặc biệt trong giai đoạn này ở miền Bắc, từng bước cải thiện cách đánh giá phiến diện của các tác giả.
2 Thủy Khẩu (tiếng Tày là Pác Nậm, nghĩa là miệng nước) là một xã nhỏ thuộc huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc sát biên giới Việt Trung, cách bản Nà Lạn của Việt Nam khoảng 7km, nhưng do quân đội Việt Nam giải phóng trước khi Hồng quân Trung Quốc tiến sát biên giới, sau đó đã bàn giao lại cho nước bạn. 12 * Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử dân y Năm 1960, Bệnh viện Bạch Mai xuất bản cuốn “Đặc san bệnh viện Bạch Mai” để kỉ niệm 15 năm thành lập nước Việt Nam DCCH và chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Công trình là tập hợp các bài viết của các giáo sư, bác sĩ, cán bộ bệnh viện viết về cơ cấu tổ chức và hoạt động của bệnh viện trong 5 năm đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc. Các bài viết tập trung phân tích những sự kiện như Chính phủ tiếp quản bệnh viện, tiến hành cải tổ, tổ chức lại cơ cấu, hoạt động và nêu một số kết quả trong hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện Bạch Mai sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng.
Công trình đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú về cơ sở vật chất, hoạt động khám chữa bệnh, số lượng cán bộ y tế, số bệnh nhân được khám và chữa bệnh lưu động,. Trên cơ sở nguồn tư liệu tiếp cận được, tác giả luận án có thể tham khảo những thành tựu trong hoạt động khám và điều trị của bệnh viện Bạch Mai - một trong các cơ sở khám chữa bệnh có quy mô lớn tuyến Trung ương trong hệ thống y tế dân sự ở miền Bắc. Công trình “Bốn mươi năm xây dựng ngành y tế”; Nxb Y học, Hà Nội, 1985 là công trình tập hợp 10 bài viết đề cập đến những thành tựu của ngành y tế trong 40 năm (từ năm 1945 đến năm 1985) trên các nội dung: công tác khám và điều trị, công tác vệ sinh phòng dịch, hoạt động đào tạo cán bộ y tế, công tác dược,… Các bài viết đã được các bác sĩ đầu ngành viết để đánh giá, tổng kết quá trình xây dựng và phát triển của ngành y tế trên nhiều nội dung. Từ những thành tựu đạt được, một số kinh nghiệm và phương hướng phát triển của ngành y tế trong thời gian tiếp theo cũng được các tác giả đặt ra.
Chính vì vậy, tham khảo công trình tác giả luận án có thể kế thừa nguồn tư liệu về hoạt động của ngành y tế, từ đó khái quát được những thành tựu lớn nhất và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và phát triển ngành y tế dân sự trong giai đoạn 1954-1975. Không chỉ kế thừa số liệu về hoạt động y tế, tham khảo công trình còn giúp tác giả hiểu thêm được nhiệm vụ và trách nhiệm đội ngũ cán bộ y tế, mỗi người dân và của toàn xã hội đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong giai đoạn lịch sử đầy biến động ở miền Bắc. Công trình “Sơ lược lịch sử 90 năm Bệnh viện hữu nghị Việt Đức Hà Nội; Nxb Y học, Hà Nội, 1996 là công trình tập thể của nhiều nhân chứng có nhiều cống hiến trong quá trình hình thành và phát triển của bệnh viện Phủ Doãn (nay là bệnh viện hữu nghị Việt Đức). Để hoàn thành công trình, các tác giả đã sử dụng nguồn sử liệu lưu trữ trong các bảo tàng để đem ra phân tích và đối chiếu.
Ngoài ra, những cuộc hành hương về cội nguồn núi rừng Việt Bắc để nhìn sâu vào lịch sử, từ đó có những đánh giá khách quan về vị trí, vai trò, của bệnh viện trong những giai đoạn lịch sử 13 khác nhau cũng được tập thể tác giả sử dụng. Công trình đã làm rõ sự tham gia tích cực và năng động của một trong những cơ sở đầu tiên của ngành y tế, gợi mở cho người đọc hình dung được vai trò bệnh viện Phủ Doãn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước. Với 4 chương, các tác giả đã phác họa những nét cơ bản trong quá trình hoạt động của bệnh viện theo tiến trình lịch sử dân tộc. Các tác giả đã nêu rõ được bức chân dung của người đặt viên gạch đầu tiên của bệnh viện Việt Đức là nhà bác học A.
Khi cách mạng Tháng Tám thành công, lòng yêu nước chân chính được giác ngộ, nhiều cán bộ công nhân viên đã tham gia hoạt động cứu quốc. Một số người tình nguyện “Nam tiến”, trong khi đại bộ phận tham gia kháng chiến phục vụ nhân dân. Chính vì vậy, “Pháo đài Phủ Doãn” đã có nhiều đóng góp trong hoạt động địch hậu, cứu chữa nhiều thương binh và chiến sĩ cách mạng.