Nghiên cứu về bệnh dịch và biện pháp giải quyết dưới triều Nguyễn (1802-1883)

Khám phá luận văn tốt nghiệp về bệnh dịch dưới triều Nguyễn (1802-1883) và các biện pháp giải quyết hiệu quả trong lịch sử Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

53
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của đề tài

0.7. Cấu trúc đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG DỊCH BỆNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1883)

1.1. Khái quát tình hình Việt Nam dưới Triều Nguyễn (1802 - 1883)

1.1.1. Chính trị - kinh tế

1.2. Thực trạng dịch bệnh dưới triều Nguyễn

1.3. Nguyên nhân phát sinh dịch bệnh

1.4. Các loại dịch bệnh

1.5. Diễn biến bệnh dịch lệ dưới triều Nguyễn

1.6. Hậu quả sau các lần phát sinh dịch bệnh

2. CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH CỦA TRIỀU NGUYỄN (1802-1883)

2.1. Các biện pháp giải quyết khi dịch bệnh bùng phát và lây lan

2.2. Các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh

2.3. Các biện pháp quan tâm đời sống nhân dân vùng phát dịch

2.4. Đánh giá những biện pháp giải quyết dịch bệnh của triều Nguyễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình Việt Nam và thực trạng dịch bệnh dưới triều Nguyễn 1802 1883

Triều Nguyễn, tồn tại từ năm 1802 đến 1945, là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Trong thời kỳ này, bệnh dịch đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân. Các loại dịch bệnh như sốt rét, dịch tả, và bệnh đậu mùa đã bùng phát, gây ra nhiều thiệt hại về người và của. Nguyên nhân phát sinh dịch bệnh chủ yếu do điều kiện sống kém, thiếu vệ sinh và sự di chuyển của quân đội. Hệ thống y tế thời kỳ này còn nhiều hạn chế, không đủ khả năng ứng phó với các dịch bệnh. Theo tài liệu ghi chép trong "Đại Nam thực lục", các biện pháp khắc phục chủ yếu là phong tỏa vùng dịch, tuyên truyền vệ sinh và tổ chức các lễ hội cầu an. Tuy nhiên, những biện pháp này thường không hiệu quả do thiếu sự đồng bộ và ý thức của người dân. Hậu quả của các dịch bệnh không chỉ là thiệt hại về sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến kinh tế và chính trị, làm suy yếu triều đại. Như vậy, việc nghiên cứu dịch bệnh dưới triều Nguyễn không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam mà còn cung cấp bài học quý giá cho công tác phòng chống dịch bệnh hiện nay.

1.1. Chính trị kinh tế

Chính trị và kinh tế dưới triều Nguyễn có sự phân hóa rõ rệt. Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đã xây dựng một hệ thống chính quyền tập trung, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề như tham nhũng và bất công. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nhưng chính sách quản lý đất đai còn nhiều bất cập. Điều này dẫn đến tình trạng đói nghèo và dễ phát sinh dịch bệnh. Các biện pháp khắc phục như giảm thuế, phát chẩn thực phẩm chỉ mang tính tạm thời. Hệ thống y tế chưa phát triển, không đủ khả năng ứng phó với các dịch bệnh. Sự thiếu hụt trong quản lý và chăm sóc sức khỏe đã làm gia tăng tỷ lệ tử vong trong các đợt bùng phát dịch bệnh. Do đó, việc nghiên cứu tình hình chính trị - kinh tế dưới triều Nguyễn là cần thiết để hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hậu quả của các dịch bệnh.

1.2. Các loại dịch bệnh

Dưới triều Nguyễn, nhiều loại dịch bệnh đã xuất hiện, trong đó có sốt rét, dịch tả, và bệnh đậu mùa. Những dịch bệnh này thường bùng phát mạnh mẽ trong các mùa mưa, khi điều kiện vệ sinh kém. Theo ghi chép trong "Khâm định Việt sử thông giám cương mục", các dịch bệnh này đã gây ra nhiều thiệt hại về nhân mạng. Sự thiếu thốn về y tế và các biện pháp phòng ngừa đã khiến cho việc kiểm soát dịch bệnh trở nên khó khăn. Các biện pháp như phong tỏa và tuyên truyền vệ sinh thường không đạt hiệu quả cao do sự thiếu hiểu biết của người dân. Hệ thống y tế thời kỳ này chủ yếu dựa vào các thầy thuốc truyền thống, không có đủ kiến thức và phương tiện để điều trị hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu các loại dịch bệnh và tác động của chúng đến xã hội là rất quan trọng.

II. Các biện pháp phòng chống dịch bệnh của triều Nguyễn 1802 1883

Triều Nguyễn đã áp dụng nhiều biện pháp khắc phục nhằm đối phó với các dịch bệnh. Khi dịch bệnh bùng phát, triều đình thường ra lệnh phong tỏa các khu vực bị ảnh hưởng, cấm di chuyển để ngăn chặn sự lây lan. Ngoài ra, các lễ hội cầu an cũng được tổ chức nhằm cầu mong sức khỏe cho nhân dân. Tuy nhiên, những biện pháp này thường không hiệu quả do thiếu sự phối hợp và ý thức của người dân. Hệ thống y tế thời kỳ này còn nhiều hạn chế, không đủ khả năng ứng phó với các dịch bệnh. Các thầy thuốc truyền thống thường không có đủ kiến thức để điều trị hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp khắc phục của triều Nguyễn không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam mà còn cung cấp bài học quý giá cho công tác phòng chống dịch bệnh hiện nay.

2.1. Các biện pháp giải quyết khi dịch bệnh bùng phát

Khi dịch bệnh bùng phát, triều đình Nguyễn đã áp dụng nhiều biện pháp như phong tỏa khu vực bị ảnh hưởng, cấm di chuyển và tổ chức các lễ hội cầu an. Tuy nhiên, những biện pháp này thường không đạt hiệu quả cao do sự thiếu hiểu biết và ý thức của người dân. Hệ thống y tế thời kỳ này còn nhiều hạn chế, không đủ khả năng ứng phó với các dịch bệnh. Các thầy thuốc truyền thống thường không có đủ kiến thức để điều trị hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp giải quyết khi dịch bệnh bùng phát là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về cách thức ứng phó của triều Nguyễn.

2.2. Các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh

Triều Nguyễn đã thực hiện nhiều biện pháp phòng ngừa nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Các biện pháp này bao gồm tuyên truyền vệ sinh, khuyến khích người dân giữ gìn sức khỏe và tổ chức các lễ hội cầu an. Tuy nhiên, do thiếu sự đồng bộ và ý thức của người dân, những biện pháp này thường không đạt hiệu quả cao. Hệ thống y tế thời kỳ này còn nhiều hạn chế, không đủ khả năng ứng phó với các dịch bệnh. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh là cần thiết để hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hậu quả của các dịch bệnh.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp bệnh dịch dưới triều nguyễn 1802 1883 và biện pháp giải quyết

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG DỊCH BỆNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1883) Triều Nguyễn là một triều đại đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Đặc biệt ngay từ sự ra đời – hành trình giành lại vương quyền đầy gian truân của vương tử Nguyễn Phúc Ánh, tức vua Gia long sau này. Trong suốt các thế kỉ XVII, XVIII, cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh không có hồi kết đã khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, lầm than. Chính vì vậy, năm 1771, ba anh em Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã đứng lên dấy cờ khở nghĩa.

Đối tượng đầu tiên mà phong trào này nhắm tới đó chính là chính quyền chúa Nguyễn Đàng Trong đang bị quyền thần Trương Phúc Loan thao túng. Năm 1777, gia tộc chúa Nguyễn mất vương quyền và bị tiêu diệt, duy chỉ có Nguyễn Phúc Ánh thoát thân, phải chạy ra đảo Thổ Chu lánh nạn. Lợi dụng bất hòa của anh em Tây Sơn, năm 1778, Nguyễn Ánh trở về, bí mật xây dựng lực lượng, đưa quân về đánh thành Gia Định. Tìm kiếm giúp đỡ từ phía Xiêm nhưng lần lượt thất vọng về sự thất bại của quân Xiêm trước nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh tăng cường tìm kiếm viện trợ từ phía nước Pháp.

Việc không thành, nhưng đổi lại lúc này Nguyễn Ánh nhận được sự trợ giúp của giám mục Bá Đa Lộc, cũng như một bộ phận đại địa chủ ở Gia Định, vì vậy, thế lực Nguyễn Ánh ngày càng mạnh lên. Năm 1972, triều Tây Sơn đang trên đà phát triển mạnh thì vua Quang Trung đột ngột qua đời, bỏ lại cả một sự nghiệp dang dở. Người kế vị là Quang Toản đã không đủ sức để gánh các trọng trách được giao phó. Trước tình hình đó, Nguyễn Ánh đưa quân tấn công Quy Nhơn (năm 1793).

Nội bộ nhà Tây Sơn rạn nứt nghiêm trọng, lực lượng quân đội ngày càng rệu rã. Tháng 7 năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm được thành Thăng Long, chính thức đặt dấu chấm hết cho vương triều Tây Sơn, đồng thời mở ra một triều đại mới 5 Luan van trong lịch sử Việt Nam – vương triều Nguyễn. Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Tồn tại suốt 143 năm (1802 – 1945), triều Nguyễn đã trải qua một thời kì đầy biến động và phân hóa sâu sắc trong lịch sử nước ta.

Là tấm gương phản chiếu hơn ngàn năm chế độ phong kiến quân chủ và là đêm trước của công cuộc giành độc lập, xây dựng nước ta ngày nay. Chính sự ra đời và tồn tại trong giai đoạn đặc biệt như vậy, nên đánh giá về vương triều này có rất nhiều ý kiến trái chiều. Nhiều khía cạnh về vương triều này được đưa ra tranh luận với các ý kiến không đồng nhất giữa các giai đoạn lịch sử, thậm chí trong cùng giai đoạn cũng nhiều quan điểm khác nhau. Chính vì vậy, trước khi đi tìm hiểu về bệnh dịch và cách phòng chống của triều Nguyễn (1802 – 1883), chúng tôi tìm hiểu về tình hình khái quát của Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 - 1883) để góp phần tạo cái nhìn đúng đắn hơn về triều đại này.

Khái quát tình hình Việt Nam dưới Triều Nguyễn (1802 - 1883) 1. Chính trị - kinh tế *Chính trị Dường như, chưa từng có quốc gia nào mà sự cát cứ, chống đối giữa các thế lực phong kiến lại kéo dài như Đại Việt ta. Suốt nửa đầu thế kỉ XVI (1533) đến đầu thế kỉ XIX (1802). Bức tranh lịch sử với những sự kiện bi hùng xảy ra dồn dập.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều vừa chấm dứt thì cuộc chiến Trịnh – Nguyễn lại tiếp tục đưa đất nước rơi vào cảnh chia cắt lần hai. Xen vào đó là phong trào Tây Sơn nổi lên cuối thế kỉ XVIII. Những cuộc chiến làm nội lực đất nước bị suy yếu, gây chia rẽ vùng miền, tạo cơ hội cho cuộc ngoại xâm, cũng như để lại nhiều dấu ấn khác biệt về văn hóa, tính cách, ngôn ngữ, tập quán trong quá trình phát triển đất nước, con người Việt Nam giữa các địa phương. 6 Luan van Đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Phúc Ánh lật đổ triều Tây Sơn, lên ngôi vị hoàng đế, đã chính thức chấm dứt 275 năm chia cắt, thống nhất đất nước liền một dãy từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau.

Quốc sử quán triều Nguyễn và Trần Trọng Kim đều cùng chung quan điểm khẳng định công lao thống nhất đất nước của Nguyễn Ánh – Gia Long. Trần Trọng Kim cho rằng: “Vua Thế Tổ Cao Hoàng đế nhà Nguyễn cất quân ra Bắc, lòng người theo phục, chỉ một tháng trời mà bình định được Bắc Hà, đem giang sơn về một mối, Nam Bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phương Nam vậy… Thế tổ khởi binh chống nhau với Tây Sơn ở đất Gia Định từ năm Mậu Tuất (1778) kể từ 24 năm, mới dứt được nhà Tây Sơn, thu phục được giang sơn cũ của chúa Nguyễn khi xưa và họp cả Bắc Nam lại một khối” [23, tr. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã xây dựng, kiện toàn hệ thống hành chính, quan chế cho chính quyền mới. Về cơ bản, triều Nguyễn vẫn giữ các quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước.

Đứng đầu là vua, nắm mọi quyền hành. Giúp việc giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1929 đổi tên là Nội Các). Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật. Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia.

Bên dưới, triều đình lập ra sáu bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của nhà nước. Bên cạnh 6 bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang,. cùng với một số Ty và Cục khác.

Theo Trần Trọng Kim, người ta “thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo nghĩa của các nước Tây Âu 7 Luan van ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau. Theo đó, nhà Nguyễn đã thiết lập một bộ máy chính quyền từ trung ương tới địa phương khá tiến bộ. Khi triều đình có việc gì quan trọng, thì vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét. Quan lại bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày.

Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hoàng đế tuy có quyền lớn nhưng lại không được làm điều gì trái phép thường. Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám sát Ngự sử có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này. Ở địa phương, nhân dân được phép tự chọn ra người tài để quản trị địa phương của mình.

Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh chọn Phú Xuân (Huế) làm quốc đô. Ông vẫn đặt 11 trấn phía bắc làm một tống trấn với tên gọi cũ là Bắc thành, do một tổng trấn cai quản. Năm 1831 - 1832, dưới thời vua Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính nhà nước, nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh. Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam.

Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh. Thừa Thiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương. Cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên. Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh).

Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn. Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã.

Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Nhìn chung, hệ thống chính quyền được phân rõ từ trung 8 Luan van ương tới địa phương, vua là người đứng đầu và có quyền lực nhiều hơn so với những triều đại trước. Tính đến thế kỉ XIX, nước ta có 98 phủ, 342 huyện và châu. Về vấn đề chủ quyền biển đảo thời kì này cũng được các vua nhà Nguyễn quan tâm chú trọng, nhất là đối với hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ năm 1816, sau khi chính thức ra lệnh tiếp thu quần đảo Hoàng Sa thì Nguyễn Ánh cũng đã cho cắm cờ và tiến hành đo đạc thuỷ trình. Tới thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải được thành lập vụ nhiệm vụ: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và biên phòng bảo vệ hai quần đảo. * Kinh tế Nông nghiệp: Cũng như những triều đại trước, nhà Nguyễn vẫn là triều đại “dĩ nông vi bản”.

Ngay từ khi mới lên ngôi, vua Gia Long đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển như: cấm mua bán ruộng đất công, lập kho Thường bình, Sở Tịch điền, Sở Diễn canh, kho Bình thiếu, Sở Đồn điền,. Hàng năm, các vua Nguyễn cũng tiến hành lễ Tịch điền khuyến khích nông nghiệp. Quỹ ruộng đất công là một vấn đề nan giải của triều Nguyễn, nó ảnh hưởng đến thu nhập quốc khố, và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra. Ý thức được được điều này, ngay từ đầu triều đại, Gia Long đã ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền, công thổ này để đảm bảo nông dân ai cũng có đất cày.

Khi nhân dân liên tục thất thu, triều đình thường phải giảm thuế, miễn thuế và phát chẩn. Tới thời vua Minh Mạng, vua Nguyễn đã định lại chính sách quân điền và tiến hành chia lại ruộng đất công cho nhân dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về bệnh dịch và biện pháp giải quyết dưới triều Nguyễn (1802-1883)" của tác giả Nguyễn Thị Nhị Hạnh, dưới sự hướng dẫn của TS. Trương Anh Thuận, thuộc trường Đại học Đà Nẵng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các bệnh dịch đã xảy ra trong thời kỳ triều Nguyễn và những biện pháp khắc phục mà chính quyền đã áp dụng. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử y tế Việt Nam mà còn nêu bật những thách thức mà xã hội phải đối mặt trong việc kiểm soát dịch bệnh. Qua đó, người đọc có thể rút ra bài học về quản lý y tế và ứng phó với các tình huống khẩn cấp trong bối cảnh hiện đại.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến quản lý văn hóa và xã hội, hãy tham khảo bài viết "Nghệ Thuật Cải Lương Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Hội Nhập", nơi khám phá sự phát triển của nghệ thuật trong bối cảnh xã hội hiện đại. Bên cạnh đó, bài viết "Nghiên cứu và đề xuất giải pháp tiêu úng, thoát lũ cho sông Phan Cà Lò" cũng sẽ cung cấp cho bạn những giải pháp thực tiễn trong việc quản lý tài nguyên nước, một vấn đề quan trọng không kém trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ: Tác động của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế đến hồ thủy điện Nam Mang 3" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế, một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng chính sách y tế và xã hội bền vững.