Chương 1: Cơ sở lí thuyết. Chương 2: Hoá. đặc điểm của xưng hô trong các chương trình truyền hình cụ thể. Miêu tả và phân tích một cách hệ thống và 9 toàn diện thực tế việc xưng hô trong các chương trìn giao tiếp truyền hình từ góc độ địa lý, văn hoá và xã hội.
Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị - , thậm chí cả những yếu tố văn hoá địa phương - Thanh Hoá chi phối việc sử dụng hành động xưng hô, từ đó, mạnh dạn đưa ra những kiến nghị đề xuất việc sử dụng xưng hô trong từng chương trình truyền hình cụ thể ở truyền hình Thanh Hoá. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Từ xƣng hô 1. Khái niệm Từ xưng hô trong tiếng Việt có nhiều cách gọi – quan niệm khác nhau, chẳng hạn: Đại từ nhân xưng, đại từ xưng hô, đại danh từ nhân xưng, từ xưng gọi, từ xưng hô, nhân xưng từ… Theo Từ điển tiếng Việt thì xưng là tự gọi mình là gì đó khi nói với người khác, biểu thị tính chất, mối quan hệ giữa mình với người ấy.
Xưng hô là tự xưng mình và gọi người khác là gì đó, khi nói với nhau, để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau. [31] Bùi Minh Yến cho rằng “Khái niệm xưng hô được ý thức như là một hành vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp. Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm vụ khởi sự tạo sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại theo đích đã định, đảm bảo hiệu lực hành vi”. [54] Đỗ Hữu Châu [4] thì quan niệm: Xưng hô là một hành vi chiếu vật, ở đây là qui chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói, người tiếp thoại.
Xưng hô thể hiện quan hệ vai giao tiếp. Theo tác giả Lê Biên, Nguyễn Minh Thuyết, đại từ nhân xưng (xưng hô) được chia làm 2 nhóm: Đại từ nhân xưng (xưng hô) đích thực: tôi, tao, tớ, hắn, họ… Đại từ xưng hô lâm thời: Nguyên là những danh từ chỉ người trong quan hệ thân thuộc được lâm thời dùng làm đại từ nhân xưng (xưng hô): ông bà, cô, dì, chú, bác, anh, cậu, mợ, dượng… Trên cơ sở quan niệm này, các tác giả đưa ra quan niệm: Đại từ nhân xưng (xưng hô) là những từ dùng để trỏ hay thay thế một chủ thể giao tiếp với mục đích xưng hô. 11 “Đại từ là những từ dùng để xưng hô, thay thế và chỉ trỏ” cũng là quan niệm của Lê A, Đinh Trọng Lạc, Hoàng Văn Thung. Với khái niệm từ xưng hô, tác giả Nguyễn Văn Chiến đã quan niệm như sau: “Đó là những từ được rút ra trong hệ thống ngôn ngữ dùng để xưng hô (biểu thị các phạm trù xưng hô nhất định) giao tiếp xã hội”.
Và từ quan niệm này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu từ xưng hô theo tinh thần của ngữ pháp dụng học, nhấn mạnh vào các chức năng hành chức của chúng trong giao tiếp. Diệp Quang Ban cho rằng: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia vào quá trình giao tiếp”. Theo GS thì đối tượng tham gia vào quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô dùng một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3, và đại từ nhân xưng dùng ở nhiều ngôi linh hoạt). Phạm Ngọc Thưởng lại cắt nghĩa và xác định vai trò của từng yếu tố trong xưng hô như sau: “Xưng” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói để người nghe biết rằng mình đang nói và chịu trách nhiệm về lời nói của mình.
Đó là hành động từ quy chiếu của người nói (ngôi 1). “Hô” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói (ngôi 2) [38]. Trong lý thuyết giao tiếp, hành vi xưng hô chỉ quan tâm nhiều nhất đến hai ngôi nhân xưng là ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Tuy nhiên, để làm rõ bản chất của hiện tượng xưng hô, chúng tôi vẫn nhắc đến ngôi nhân xưng thứ ba.
Do xưng hô là một hành vi ngôn ngữ, nên tùy theo sự biến động của các nhân tố trong ngữ cảnh cụ thể mà các đối tượng tham gia giao tiếp sẽ lựa chọn những từ xưng hô để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất. Xưng hô còn bao gồm cả tính đồng đại và lịch đại, nó là một sự liên tục nối quá khứ, 12 hiện tại và tương lai. Đồng thời trong diễn tiến của quá trình lại có những biến động nhất định. Xưng hô chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: tuổi tác, địa vị, giới tính cũng như vai giao tiếp của từng đối tượng tham gia giao tiếp…Cách xưng hô cũng như việc lựa chọn từ xưng hô được quy định bởi đối tượng cũng như quan hệ của các đối tượng tham gia giao tiếp với nhau.
Nó chi phối quá trình giao tiếp và có thể thay đổi theo diễn tiến phức tạp của cuộc thoại. Như vậy xưng hô là một hành vi ngôn ngữ mà ở đó các nhân vật giao tiếp dùng biểu thức quy chiếu để đưa mình và người đối thoại vào trong lời nói. Trong một cuộc thoại song thoại,việc xưng và hô chỉ nằm trong khuôn khổ của người nói – SP1 và người nghe – SP2. Nhưng bắt đầu từ tam thoại, cần có sự phân biệt người nghe (hearer) và người tiếp thoại (addressee).
Giả định trong một lớp học, giáo viên đặt cho học sinh A một câu hỏi, A là người tiếp thoại của giáo viên đối với câu hỏi đó, còn các em khác trong lớp là những người nghe (Dẫn theo [4]). Điều này gần giống như trong giao tiếp truyền hình – đối với những chương trình có sự xuất hiện khách mời cùng với MC – người dẫn chương trình. Như vậy, người dẫn chương trình là người nói – vai nói, còn khách mời (những chương trình có khách mời) là người tiếp thoại – vai tiếp thoại, còn người nghe chính là công chúng. Trong giao tiếp truyền hình, công chúng luôn tham gia với tư cách là người nghe.
Và, vì thế họ là một phần không thể thiếu trong cuộc thoại. Do vậy, sự chi phối của những người nghe này đến cuộc hội thoại là một tất yếu. Cho nên, xưng hô không chỉ đơn thuần là việc “xưng” của người nói và “hô” đối với người tiếp thoại, mà còn là sự xưng và hô với người nghe – công chúng nữa. Như vậy, việc xưng hô, nói chung, và xưng hô trong giao tiếp truyền hình, nói riêng, thực chất là việc xưng và hô giữa các đối ngôn trong một ngữ cảnh nhất định.
Sự chiếu vật được nói đến trong xưng hô chính là sự 13 qui chiếu các vai giao tiếp với nhau trong một tình huống giao tiếp cụ thể. Vậy nên, một cá nhân nào đó trong các vai giao tiếp khác nhau với những ngữ cảnh khác nhau sẽ xưng hô khác nhau. Từ những quan niệm trên, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của mình để làm việc như sau: Từ xưng hô là những từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc để hô (gọi) của người nói trong mối quan hệ với người nghe trong một ngôi giao tiếp nhất định. Dù gọi từ xưng hô bằng thuật ngữ này hay thuật ngữ khác và những từ được dùng làm từ xưng hô trong từng ngôn ngữ có khác nhau, nhưng chúng đều có sự thống nhất với nhau về chức năng trong giao tiếp ngôn ngữ: Thiết lập quan hệ tiếp xúc giữa những người tham gia giao tiếp và duy trì diễn biến giao tiếp cũng với từ đó, từ xưng hô còn có chức năng bộc lộ thái độ, tình cảm cũng như vị thế của các nhân vật tham gia giao tiếp trong từng bối cảnh giao tiếp cụ thể.
Phân loại từ xưng hô Ngữ pháp truyền thống chia xưng hô thành ba ngôi: ngôi thứ nhất là người nói, ngôi thứ hai là người tiếp thoại và ngôi thứ ba là ngôi của người, sự vật, sự việc. được nói tới trong diễn ngôn. Và nhìn chung, quan niệm về xưng hô với ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba là khá phổ biến. Tuy nhiên, Benveniste (Dẫn theo [4]) cho rằng cần phải tách ngôi thứ ba ra khỏi ngôi thứ nhất và thứ hai theo thế đối lập: Ngôi thứ nhất/ Ngôi thứ hai Ngôi thứ ba Theo ông, thì ngôi thứ nhất, thứ hai mới thực sự là ngôi xưng hô, mới chiếu vật những người tham gia và sự trao đổi lời, mới được các đối ngôn dùng để xưng và hô nhau.
Còn ngôi thứ ba chiếu vật những người hay sự vật không phải là đối ngôn trong một lời nói. Biểu thức ngôn ngữ ngữ pháp hóa các ngôi để xưng hô trong các ngôn ngữ là các đại từ nhân xưng. Các đại từ nhân xưng trong tiếng Anh là I, 14 you, we, he, she, it, they, me, us, him, its, them, myself. ;trong tiếng Pháp: Je, tu, elle, il, nous, ils, elles.
; trong tiếng Việt: tôi, tớ, tao, tui, qua, mày, mi, mình; choa, chúng tao, chúng ta, chúng tôi, chúng mình, chúng tớ, bầy (bi), choa, chúng mày; bay, hắn, nó, y, thị, va. Các đại từ nhân xưng tiếng Việt không có sự phân chia rạch ròi về ngôi thứ như trong tiếng Anh, tiếng Pháp. Đỗ Hữu Châu, thì có hai điều cần lưu ý: Thứ nhất, không nên đồng nhất đại từ xưng hô (và đại từ nói chung) với từ xưng hô. Để xưng hô, ngoài các đại từ, các ngôn ngữ còn có thể dùng các từ loại khác nhau như tên riêng, tên chức danh, tên nghề nghiệp, các từ chỉ quan hệ thân tộc, các từ chỉ quan hệ không gian (đây, đấy, ấy, đằng này.), thậm chí trống vắng từ xưng hô.
Thứ hai, cần phân biệt ngôi và các đại từ. Ngôi là một phạm trù ngữ dụng biểu thị vai trò của các đối ngôn tham gia vào hoạt động trao đổi lời nói trong giao tiếp, còn đại từ là những cái biểu đạt, tức các hình thức ngôn ngữ của ngôi. Đại từ nhân xưng phân chia theo ngôi mà chúng biểu đạt nhưng để biểu đạt ngôi không nhất thiết bao giờ cũng phải dùng đại từ. Có thể có những đại từ dùng cho cả hai ngôi.
Trong tiếng Việt, hiện tượng từ thân tộc, tên riêng có thể dùng được cho cả ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.