Xưng Hô Trong Giao Tiếp Truyền Hình Tại Thanh Hóa

Tài liệu nghiên cứu Xưng hô trong giao tiếp truyền hình thanh hóa, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Trường Đại Học Hồng Đức

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. Từ xưng hô

1.2. Phân loại từ xưng hô

1.3. Chức năng của từ xưng hô

1.4. Những vấn đề về ngữ dụng chủ yếu khi xem xét từ xưng hô

1.4.1. Giao tiếp và các nhân tố trong giao tiếp

1.4.2. Các nhân tố chi phối việc xưng hô

1.5. Văn hóa, ngôn ngữ và mối quan hệ ngôn ngữ, văn hóa

1.5.1. Khái niệm ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

1.6. Về truyền hình, Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa

1.6.1. Về truyền hình

1.6.2. Về Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP TRUYỀN HÌNH THANH HÓA

2.1. Chương trình thời sự

2.1.1. Xưng trong chương trình thời sự

2.1.2. Hô trong chương trình thời sự

2.2. Chương trình chuyên biệt

2.2.1. Xưng trong chương trình chuyên biệt

2.2.2. Hô (gọi) trong chương trình chuyên biệt

2.3. Chương trình giải trí

2.3.1. Xưng trong chương trình giải trí

2.3.2. Hô (gọi) trong chương trình giải trí

2.4. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: CÁC NHÂN TỐ CHI PHỐI XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP TRUYỀN HÌNH THANH HÓA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.1. Vai giao tiếp (vai nói, vai tiếp thoại)

3.2. Quan hệ liên cá nhân

3.3. Thoại trường

3.4. Tình cảm thái độ đánh giá của các vai với nhau và của các vai với sự vật được thưa xưng

3.5. Phép lịch sự trong giao tiếp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

2. Kiến nghị

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ TUYÊN BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Xưng Hô Trong Truyền Hình

Nghiên cứu về xưng hô trong truyền hình là một lĩnh vực quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh giao tiếp ngày càng đa dạng. Tại Việt Nam, xưng hô không chỉ đơn thuần là cách gọi mà còn là một chiến thuật giao tiếp thể hiện văn hóa ứng xử. Việc sử dụng từ xưng hô chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân, ngữ vực, thoại trường và thái độ của người nói. Trong lĩnh vực truyền hình, việc lựa chọn từ ngữ xưng hô phù hợp có thể mang lại hiệu quả lớn, truyền tải thông điệp một cách tinh tế và tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với khán giả. Tuy nhiên, nhiều người làm truyền hình còn lúng túng trong việc này, do chưa nắm vững các quy tắc hoặc chưa ý thức được tầm quan trọng của xưng hô.

1.1. Tầm quan trọng của xưng hô trong giao tiếp truyền hình

Theo Đỗ Hữu Châu, xưng hô là "chiến thuật thứ nhất" trong giao tiếp của người Việt. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn từ ngữ xưng hô phù hợp để thể hiện sự tôn trọng, thân thiện hoặc trang trọng. Trong giao tiếp truyền hình, xưng hô không chỉ là cách gọi mà còn là phương tiện để xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp và tạo dựng niềm tin với khán giả. Việc sử dụng xưng hô đúng cách giúp truyền hình thực hiện tốt vai trò tuyên truyền, giáo dục và giải trí.

1.2. Xưng hô và vai trò chuẩn hóa ngôn ngữ của truyền hình

Truyền hình không chỉ là phương tiện truyền thông mà còn có vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Việc sử dụng xưng hô chuẩn mực trên truyền hình góp phần định hướng văn phong truyền hình cho khán giả, đặc biệt là thế hệ trẻ. Ngược lại, việc sử dụng xưng hô tùy tiện, thiếu chuẩn xác có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi ngôn ngữ của công chúng.

II. Vấn Đề Xưng Hô Trong Giao Tiếp Truyền Hình Hiện Nay

Mặc dù xưng hô có vai trò quan trọng, thực tế cho thấy việc sử dụng xưng hô trong giao tiếp truyền hình hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề. Nhiều chương trình truyền hình sử dụng xưng hô một cách tùy tiện, thiếu chuẩn mực, không phù hợp với đối tượng khán giả và bối cảnh giao tiếp. Điều này có thể gây khó chịu cho người xem, làm giảm hiệu quả truyền thông và ảnh hưởng đến uy tín của chương trình. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do người làm chương trình chưa thực sự nắm vững các quy tắc xưng hô hoặc chưa ý thức được tầm quan trọng của việc này.

2.1. Sự lúng túng trong lựa chọn từ ngữ xưng hô

Nhiều người làm chương trình truyền hình thừa nhận rằng họ thường xuyên gặp khó khăn trong việc lựa chọn từ ngữ xưng hô phù hợp. Sự lúng túng này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như thiếu kiến thức về ngôn ngữ học, không hiểu rõ văn hóa giao tiếp của từng vùng miền hoặc đơn giản là không có thời gian để suy nghĩ kỹ về vấn đề này. Hậu quả là, nhiều chương trình truyền hình sử dụng xưng hô một cách máy móc, rập khuôn, không tạo được sự gần gũi và thân thiện với khán giả.

2.2. Xưng hô ngoài kịch bản và những hệ lụy

Trong một số chương trình truyền hình, người tham gia có thể xưng hô ngoài kịch bản, gây ra những tình huống khó xử hoặc phản cảm. Điều này đặc biệt phổ biến trong các chương trình trực tiếp, khi người tham gia không có nhiều thời gian để suy nghĩ và kiểm soát lời nói của mình. Việc xưng hô không phù hợp có thể làm mất thiện cảm của khán giả, ảnh hưởng đến hình ảnh của chương trình và thậm chí gây ra những tranh cãi không đáng có.

III. Nghiên Cứu Xưng Hô Trong Truyền Hình Thanh Hóa Cách Tiếp Cận

Nghiên cứu xưng hô trong giao tiếp truyền hình Thanh Hóa là một hướng tiếp cận mới, nhằm giải quyết những vấn đề mà việc sử dụng từ xưng hô đang đặt ra. Thanh Hóa là một tỉnh có đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ riêng, do đó việc nghiên cứu xưng hô tại đây cần được thực hiện một cách cẩn trọng và khoa học. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc xác định hệ thống từ ngữ xưng hô được sử dụng trong các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa, đồng thời làm rõ những yếu tố ngôn ngữ - văn hóa chi phối việc xưng hô.

3.1. Đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp Thanh Hóa

Thanh Hóa là một tỉnh có lịch sử và văn hóa lâu đời, với nhiều phong tục tập quán độc đáo. Ngôn ngữ Thanh Hóa cũng có những đặc điểm riêng, khác biệt so với các vùng miền khác. Việc nghiên cứu xưng hô tại Thanh Hóa cần phải xem xét đến những yếu tố này để có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc. Ví dụ, cách sử dụng xưng hô kính ngữ có thể khác biệt so với các tỉnh thành khác.

3.2. Phạm vi nghiên cứu Các chương trình truyền hình Thanh Hóa

Nghiên cứu này sẽ tập trung vào các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa, bao gồm chương trình thời sự, chương trình giải trí và chương trình chuyên biệt. Việc lựa chọn các chương trình này nhằm đảm bảo tính đa dạng và đại diện cho các loại hình giao tiếp truyền hình khác nhau. Phân tích xưng hô trong các chương trình này sẽ giúp làm rõ những đặc trưng và xu hướng sử dụng xưng hô tại Thanh Hóa.

IV. Phân Tích Xưng Hô Trong Các Chương Trình Truyền Hình Thanh Hóa

Việc phân tích xưng hô trong các chương trình truyền hình Thanh Hóa sẽ được thực hiện dựa trên các tiêu chí cụ thể, như vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân, ngữ vực, thoại trường và thái độ của người nói. Kết quả phân tích sẽ giúp xác định những quy tắc và xu hướng sử dụng xưng hô trong giao tiếp truyền hình tại Thanh Hóa, đồng thời chỉ ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp khắc phục. Phân tích này sẽ tập trung vào cả xưng trong các chương trình.

4.1. Xưng hô trong chương trình thời sự Tính trang trọng và chuyên nghiệp

Trong chương trình thời sự, xưng hô thường mang tính trang trọng và chuyên nghiệp, thể hiện sự tôn trọng đối với khán giả và các nhân vật được đề cập. Các MC và phóng viên thường sử dụng các từ ngữ xưng hô chuẩn mực, tránh sử dụng các từ ngữ suồng sã hoặc thân mật quá mức. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp sử dụng xưng hô chưa phù hợp, gây ảnh hưởng đến tính nghiêm túc của chương trình.

4.2. Xưng hô trong chương trình giải trí Tính gần gũi và thân thiện

Trong chương trình giải trí, xưng hô thường mang tính gần gũi và thân thiện, tạo không khí thoải mái và vui vẻ cho khán giả. Các MC và khách mời có thể sử dụng các từ ngữ xưng hô thân mật hơn, nhưng vẫn phải đảm bảo sự lịch sự và tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, cần tránh sử dụng các từ ngữ quá suồng sã hoặc thô tục, gây phản cảm cho người xem.

4.3. Xưng hô trong chương trình chuyên biệt Phù hợp với đối tượng

Trong chương trình chuyên biệt, xưng hô cần phù hợp với đối tượng khán giả mà chương trình hướng đến. Ví dụ, trong chương trình dành cho người cao tuổi, cần sử dụng các từ ngữ xưng hô kính ngữ để thể hiện sự tôn trọng. Trong chương trình dành cho trẻ em, có thể sử dụng các từ ngữ thân mật và gần gũi hơn. Việc lựa chọn xưng hô phù hợp giúp chương trình tạo được sự đồng cảm và thu hút khán giả.

V. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xưng Hô Truyền Hình

Để nâng cao chất lượng xưng hô trong giao tiếp truyền hình Thanh Hóa, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Các đài truyền hình cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về ngôn ngữ họcvăn hóa giao tiếp cho đội ngũ MC, phóng viên và biên tập viên. Đồng thời, cần xây dựng bộ quy tắc ứng xử về xưng hô trong truyền hình, làm cơ sở để các chương trình thực hiện theo. Ngoài ra, cần tăng cường kiểm tra và giám sát việc sử dụng xưng hô trên truyền hình, kịp thời phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm.

5.1. Xây dựng bộ quy tắc ứng xử về xưng hô

Việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử về xưng hô là một giải pháp quan trọng để chuẩn hóa việc sử dụng xưng hô trong truyền hình. Bộ quy tắc này cần quy định rõ các nguyên tắc chung về xưng hô, cũng như các quy định cụ thể về xưng hô trong từng loại hình chương trình. Đồng thời, cần có các hướng dẫn chi tiết về cách sử dụng các từ ngữ xưng hô phổ biến, tránh gây nhầm lẫn hoặc hiểu sai.

5.2. Tăng cường đào tạo về ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp

Để thực hiện tốt bộ quy tắc ứng xử về xưng hô, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về ngôn ngữ họcvăn hóa giao tiếp cho đội ngũ làm truyền hình. Các khóa đào tạo cần tập trung vào các vấn đề như: đặc điểm của tiếng Việt, các quy tắc xưng hô trong tiếng Việt, văn hóa giao tiếp của người Việt, cách sử dụng xưng hô phù hợp với từng đối tượng và bối cảnh giao tiếp.

VI. Kết Luận Về Xưng Hô Trong Truyền Hình Thanh Hóa

Nghiên cứu về xưng hô trong giao tiếp truyền hình Thanh Hóa là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng truyền hình tại địa phương. Việc sử dụng xưng hô chuẩn mực và phù hợp không chỉ thể hiện sự tôn trọng đối với khán giả mà còn góp phần xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp và uy tín cho các chương trình truyền hình. Hy vọng rằng, những kết quả nghiên cứu này sẽ được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn, góp phần vào sự phát triển của truyền hình Thanh Hóa nói riêng và truyền hình Việt Nam nói chung.

6.1. Giá trị của nghiên cứu đối với truyền hình địa phương

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao đối với truyền hình địa phương, đặc biệt là truyền hình Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin hữu ích về hệ thống từ ngữ xưng hô được sử dụng tại địa phương, cũng như những yếu tố văn hóa chi phối việc xưng hô. Điều này giúp các đài truyền hình xây dựng các chương trình phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của địa phương, tạo được sự gần gũi và thu hút khán giả.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ truyền hình

Nghiên cứu về xưng hô chỉ là một phần nhỏ trong lĩnh vực ngôn ngữ truyền hình. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác của ngôn ngữ truyền hình, như văn phong truyền hình, cách sử dụng từ ngữ địa phương, ảnh hưởng của truyền hình đến ngôn ngữ của giới trẻ... Những nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề của ngôn ngữ truyền hình, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng truyền hình.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí thuyết. Chương 2: Hoá. đặc điểm của xưng hô trong các chương trình truyền hình cụ thể. Miêu tả và phân tích một cách hệ thống và 9 toàn diện thực tế việc xưng hô trong các chương trìn giao tiếp truyền hình từ góc độ địa lý, văn hoá và xã hội.

Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị - , thậm chí cả những yếu tố văn hoá địa phương - Thanh Hoá chi phối việc sử dụng hành động xưng hô, từ đó, mạnh dạn đưa ra những kiến nghị đề xuất việc sử dụng xưng hô trong từng chương trình truyền hình cụ thể ở truyền hình Thanh Hoá. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Từ xƣng hô 1. Khái niệm Từ xưng hô trong tiếng Việt có nhiều cách gọi – quan niệm khác nhau, chẳng hạn: Đại từ nhân xưng, đại từ xưng hô, đại danh từ nhân xưng, từ xưng gọi, từ xưng hô, nhân xưng từ… Theo Từ điển tiếng Việt thì xưng là tự gọi mình là gì đó khi nói với người khác, biểu thị tính chất, mối quan hệ giữa mình với người ấy.

Xưng hô là tự xưng mình và gọi người khác là gì đó, khi nói với nhau, để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau. [31] Bùi Minh Yến cho rằng “Khái niệm xưng hô được ý thức như là một hành vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp. Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm vụ khởi sự tạo sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại theo đích đã định, đảm bảo hiệu lực hành vi”. [54] Đỗ Hữu Châu [4] thì quan niệm: Xưng hô là một hành vi chiếu vật, ở đây là qui chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói, người tiếp thoại.

Xưng hô thể hiện quan hệ vai giao tiếp. Theo tác giả Lê Biên, Nguyễn Minh Thuyết, đại từ nhân xưng (xưng hô) được chia làm 2 nhóm: Đại từ nhân xưng (xưng hô) đích thực: tôi, tao, tớ, hắn, họ… Đại từ xưng hô lâm thời: Nguyên là những danh từ chỉ người trong quan hệ thân thuộc được lâm thời dùng làm đại từ nhân xưng (xưng hô): ông bà, cô, dì, chú, bác, anh, cậu, mợ, dượng… Trên cơ sở quan niệm này, các tác giả đưa ra quan niệm: Đại từ nhân xưng (xưng hô) là những từ dùng để trỏ hay thay thế một chủ thể giao tiếp với mục đích xưng hô. 11 “Đại từ là những từ dùng để xưng hô, thay thế và chỉ trỏ” cũng là quan niệm của Lê A, Đinh Trọng Lạc, Hoàng Văn Thung. Với khái niệm từ xưng hô, tác giả Nguyễn Văn Chiến đã quan niệm như sau: “Đó là những từ được rút ra trong hệ thống ngôn ngữ dùng để xưng hô (biểu thị các phạm trù xưng hô nhất định) giao tiếp xã hội”.

Và từ quan niệm này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu từ xưng hô theo tinh thần của ngữ pháp dụng học, nhấn mạnh vào các chức năng hành chức của chúng trong giao tiếp. Diệp Quang Ban cho rằng: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia vào quá trình giao tiếp”. Theo GS thì đối tượng tham gia vào quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô dùng một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3, và đại từ nhân xưng dùng ở nhiều ngôi linh hoạt). Phạm Ngọc Thưởng lại cắt nghĩa và xác định vai trò của từng yếu tố trong xưng hô như sau: “Xưng” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói để người nghe biết rằng mình đang nói và chịu trách nhiệm về lời nói của mình.

Đó là hành động từ quy chiếu của người nói (ngôi 1). “Hô” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói (ngôi 2) [38]. Trong lý thuyết giao tiếp, hành vi xưng hô chỉ quan tâm nhiều nhất đến hai ngôi nhân xưng là ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Tuy nhiên, để làm rõ bản chất của hiện tượng xưng hô, chúng tôi vẫn nhắc đến ngôi nhân xưng thứ ba.

Do xưng hô là một hành vi ngôn ngữ, nên tùy theo sự biến động của các nhân tố trong ngữ cảnh cụ thể mà các đối tượng tham gia giao tiếp sẽ lựa chọn những từ xưng hô để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất. Xưng hô còn bao gồm cả tính đồng đại và lịch đại, nó là một sự liên tục nối quá khứ, 12 hiện tại và tương lai. Đồng thời trong diễn tiến của quá trình lại có những biến động nhất định. Xưng hô chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: tuổi tác, địa vị, giới tính cũng như vai giao tiếp của từng đối tượng tham gia giao tiếp…Cách xưng hô cũng như việc lựa chọn từ xưng hô được quy định bởi đối tượng cũng như quan hệ của các đối tượng tham gia giao tiếp với nhau.

Nó chi phối quá trình giao tiếp và có thể thay đổi theo diễn tiến phức tạp của cuộc thoại. Như vậy xưng hô là một hành vi ngôn ngữ mà ở đó các nhân vật giao tiếp dùng biểu thức quy chiếu để đưa mình và người đối thoại vào trong lời nói. Trong một cuộc thoại song thoại,việc xưng và hô chỉ nằm trong khuôn khổ của người nói – SP1 và người nghe – SP2. Nhưng bắt đầu từ tam thoại, cần có sự phân biệt người nghe (hearer) và người tiếp thoại (addressee).

Giả định trong một lớp học, giáo viên đặt cho học sinh A một câu hỏi, A là người tiếp thoại của giáo viên đối với câu hỏi đó, còn các em khác trong lớp là những người nghe (Dẫn theo [4]). Điều này gần giống như trong giao tiếp truyền hình – đối với những chương trình có sự xuất hiện khách mời cùng với MC – người dẫn chương trình. Như vậy, người dẫn chương trình là người nói – vai nói, còn khách mời (những chương trình có khách mời) là người tiếp thoại – vai tiếp thoại, còn người nghe chính là công chúng. Trong giao tiếp truyền hình, công chúng luôn tham gia với tư cách là người nghe.

Và, vì thế họ là một phần không thể thiếu trong cuộc thoại. Do vậy, sự chi phối của những người nghe này đến cuộc hội thoại là một tất yếu. Cho nên, xưng hô không chỉ đơn thuần là việc “xưng” của người nói và “hô” đối với người tiếp thoại, mà còn là sự xưng và hô với người nghe – công chúng nữa. Như vậy, việc xưng hô, nói chung, và xưng hô trong giao tiếp truyền hình, nói riêng, thực chất là việc xưng và hô giữa các đối ngôn trong một ngữ cảnh nhất định.

Sự chiếu vật được nói đến trong xưng hô chính là sự 13 qui chiếu các vai giao tiếp với nhau trong một tình huống giao tiếp cụ thể. Vậy nên, một cá nhân nào đó trong các vai giao tiếp khác nhau với những ngữ cảnh khác nhau sẽ xưng hô khác nhau. Từ những quan niệm trên, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của mình để làm việc như sau: Từ xưng hô là những từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc để hô (gọi) của người nói trong mối quan hệ với người nghe trong một ngôi giao tiếp nhất định. Dù gọi từ xưng hô bằng thuật ngữ này hay thuật ngữ khác và những từ được dùng làm từ xưng hô trong từng ngôn ngữ có khác nhau, nhưng chúng đều có sự thống nhất với nhau về chức năng trong giao tiếp ngôn ngữ: Thiết lập quan hệ tiếp xúc giữa những người tham gia giao tiếp và duy trì diễn biến giao tiếp cũng với từ đó, từ xưng hô còn có chức năng bộc lộ thái độ, tình cảm cũng như vị thế của các nhân vật tham gia giao tiếp trong từng bối cảnh giao tiếp cụ thể.

Phân loại từ xưng hô Ngữ pháp truyền thống chia xưng hô thành ba ngôi: ngôi thứ nhất là người nói, ngôi thứ hai là người tiếp thoại và ngôi thứ ba là ngôi của người, sự vật, sự việc. được nói tới trong diễn ngôn. Và nhìn chung, quan niệm về xưng hô với ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba là khá phổ biến. Tuy nhiên, Benveniste (Dẫn theo [4]) cho rằng cần phải tách ngôi thứ ba ra khỏi ngôi thứ nhất và thứ hai theo thế đối lập: Ngôi thứ nhất/ Ngôi thứ hai Ngôi thứ ba Theo ông, thì ngôi thứ nhất, thứ hai mới thực sự là ngôi xưng hô, mới chiếu vật những người tham gia và sự trao đổi lời, mới được các đối ngôn dùng để xưng và hô nhau.

Còn ngôi thứ ba chiếu vật những người hay sự vật không phải là đối ngôn trong một lời nói. Biểu thức ngôn ngữ ngữ pháp hóa các ngôi để xưng hô trong các ngôn ngữ là các đại từ nhân xưng. Các đại từ nhân xưng trong tiếng Anh là I, 14 you, we, he, she, it, they, me, us, him, its, them, myself. ;trong tiếng Pháp: Je, tu, elle, il, nous, ils, elles.

; trong tiếng Việt: tôi, tớ, tao, tui, qua, mày, mi, mình; choa, chúng tao, chúng ta, chúng tôi, chúng mình, chúng tớ, bầy (bi), choa, chúng mày; bay, hắn, nó, y, thị, va. Các đại từ nhân xưng tiếng Việt không có sự phân chia rạch ròi về ngôi thứ như trong tiếng Anh, tiếng Pháp. Đỗ Hữu Châu, thì có hai điều cần lưu ý: Thứ nhất, không nên đồng nhất đại từ xưng hô (và đại từ nói chung) với từ xưng hô. Để xưng hô, ngoài các đại từ, các ngôn ngữ còn có thể dùng các từ loại khác nhau như tên riêng, tên chức danh, tên nghề nghiệp, các từ chỉ quan hệ thân tộc, các từ chỉ quan hệ không gian (đây, đấy, ấy, đằng này.), thậm chí trống vắng từ xưng hô.

Thứ hai, cần phân biệt ngôi và các đại từ. Ngôi là một phạm trù ngữ dụng biểu thị vai trò của các đối ngôn tham gia vào hoạt động trao đổi lời nói trong giao tiếp, còn đại từ là những cái biểu đạt, tức các hình thức ngôn ngữ của ngôi. Đại từ nhân xưng phân chia theo ngôi mà chúng biểu đạt nhưng để biểu đạt ngôi không nhất thiết bao giờ cũng phải dùng đại từ. Có thể có những đại từ dùng cho cả hai ngôi.

Trong tiếng Việt, hiện tượng từ thân tộc, tên riêng có thể dùng được cho cả ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên Cứu Về Xưng Hô Trong Giao Tiếp Truyền Hình Tại Thanh Hóa mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức xưng hô trong giao tiếp truyền hình, đặc biệt là trong bối cảnh văn hóa và xã hội của Thanh Hóa. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các hình thức xưng hô mà còn chỉ ra tầm quan trọng của chúng trong việc xây dựng mối quan hệ và tạo dựng hình ảnh cá nhân trong truyền thông. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ về xưng hô có thể giúp cải thiện kỹ năng giao tiếp, từ đó nâng cao hiệu quả trong công việc và cuộc sống hàng ngày.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và giao tiếp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu lời từ chối trong tiếng hán hiện đại thường dùng nơi công sở đối chiếu với cách biểu đạt tương đương trong tiếng việt luận văn ths ngôn ngữ học 60 22 10. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp trong môi trường công sở, từ đó có thể áp dụng những kiến thức này vào thực tiễn. Mỗi tài liệu đều là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh của ngôn ngữ và giao tiếp.