MỞ ĐẦU Trái đất dang dần nóng lên là van dé quan tâm của toan cầu. Một trong những nguyên nhân chính gây ra van dé này là do sự phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2. Trong khi đó, để phục vụ cho việc phát triển kinh tế cũng như đáp ứng được nhu cau cuộc sống, xã hội ngày càng tăng cao thì việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch đã trở nên phố biến và sẽ ngày càng tăng dẫn đến lượng phát thải khí CO; sẽ càng tăng. Hiện tại, các nước trên thế giới đang tìm kiếm nhiều cách để cắt giảm lượng phát thải khí CO; như việc hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, thay vào đó sử dụng nguồn năng lượng tái tạo.
Bên cạnh đó một hướng đi mới đó là việc tìm cách chuyển hóa khí COa thành các loại hợp chất có nhiều công dụng khác như CH¡, CH30H, CH30CH3. Việc lựa chọn san phẩm thu được từ khí CO; cũng là một van đề rất được quan tâm. Tuy nhiên hiện nay xu thế đang nghiêng về việc chuyển hóa khí CO2 thành khí CHa do các ưu điểm về mặt nhiệt động học cũng như thuận lợi trong việc ứng dụng trong công nghiệp. Đối với tình hình thực tế tại Việt Nam, việc chuyển hóa khí COz thành khí CH¿ lại càng thiết thực và phù hợp vì có hai mỏ khí rất lớn có ham lượng khí CO2 cao (mỏ khí Cá Voi Xanh với 30%tt CO2 và mỏ khí Lô B - Ô Môn với 20%tt CO2).
Mặt khác, nhu cầu sử dụng khí CH¿ dé phát điện tại nước ta ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu phát triển về kinh tế. Ngoài ra, một yếu tố thuận lợi to lớn nữa là sản phẩm khí CH¿ thu được từ khí CO: sẽ được sử dụng vào việc đốt và thực hiện chu trình giãn nở tại các turbine khí tại các nhà máy nhiệt điện khí - vốn không đòi hỏi nguồn nguyên liệu có độ tinh khiết cao, sử dụng được cả trong trường hợp hỗn hợp khí bao gồm hỗn hợp CHạ, CO, CO;¿. Phan ứng chuyển hóa khí COz thành khí CH¿ hiện tại đa phần đều sử dụng xúc tác kim loại Ni trên các chất mang khác nhau. Kim loại Ni được sử dụng pho bién va rong rai vi day la kim loai ré tiền hơn các kim loại quý khác như Rb, Rh, Ru, Pd và Pt.
trong khi độ chuyển hóa, độ chọn lọc khá cao. Tuy nhiên một van dé là các hệ xúc tác đã được phát triển hay gặp là tình trạng tạo coke của xúc tác gây giảm hoạt tính của xúc tác. Chính vì thế, rất nhiều phụ gia cũng như chất mang mới được phát triển nhằm khắc phục tình trạng trên. Xúc tác sử dụng cho phản ứng methane hóa thuộc loại nhạy cấu trúc nên diện tích bề mặt riêng của chất mang và xúc tác có ý nghĩa quan trọng đối với tính chất lý - hóa cũng như hoạt độ xúc tác.
Chất mang SBA-15 là chất mang thuộc loại mao quản trung bình có diện tích bề mặt lớn lên đến 600 m”/g. Đường kính mao quản lớn (50 — 300 A), kích thước hạt tương đối lớn nên kha năng hấp phụ chất phan ứng trên bề mặt rất tốt. Thành mao quản dày nên có khả năng bên nhiệt tốt. Việc sử dụng SBA-15 làm chat mang cho các hệ xúc tác trên cơ sở kim loại Ni sẽ giúp tăng diện tích bề mặt cũng như tăng tính bền nhiệt của hệ xúc tác và qua đó cải thiện hoạt tính cũng như độ bền của chất xúc tác.
Bên cạnh những điểm mạnh thì chất mang SBA-15 cũng còn tồn tại một số vẫn dé cần cải thiện. Thanh phần của SBA- 15 là Silic dioxide mà đặc điểm silic dioxide là chất kém hoạt động nên hệ xúc tác NiO/SBA-15 tuy có diện tích bể mặt lớn nhưng khả năng liên kết với xúc tác kim loại yếu. Chính vì thế cần bố sung thêm phụ gia có khả năng phân tán kim loại Ni trên chất mang SBA-15. CeO; là một chất biến tinh cẫu trúc và điện tử được sử dụng để hỗ trợ và tăng cường cho kim loại Ni mang trên chất mang trong phản ứng chuyên hóa khí CO>2 thành khí CH, nhờ những ưu điểm sau: tăng cường khả năng phân tán của kim loại Ni trên bề mặt chất mang, thay đổi tính chất liên kết giữa Ni và chất mang băng cách tạo ra liên kết mới giữa kim loại NiO-CeOz-chất mang.
Thêm vào đó, CeO; còn có một tính chất nữa đó là việc CeO2 chính là một kho chứa oxy có khả năng giải phóng một lượng oxy lớn nên có khả năng giảm việc tao coke xúc tác. Fuy nhiên, việc bố sung CeO; cũng đồng thời có khả năng làm giảm hiệu suất của phản ứng chuyển hóa COz thành khí CHa. Do vay, việc tìm hàm lượng phụ gia CeO2 phù hợp cho từng hệ xúc tác là một van dé quan trọng. Xuất phát từ những vấn dé trên, trong khuôn khổ đề tài chuyển hóa khí CO2 thành khí CHa, một hệ xúc tác mới là NiO-CeO; trên chất mang SBA-15 sẽ được tiên hành nghiên cứu, điêu chê và tìm ra các điêu kiện tôi ưu về thành phân xúc tác, điều kiện xử lý, hoạt hóa xúc tác cũng như thử nghiệm trên sơ đồ dòng vi lượng để chuyển hóa khí CO; thành khí CH¡.
Các vấn dé chi tiết sẽ được thực hiện trong qua luận văn này sẽ bao gồm các nội dung sau: Nội dung 1: Điều chế chất mang SBA-15. Nội dung 2: Điều chế xúc tac NiO/SBA-15 với hàm lượng Ni khác nhau bang phương pháp tâm. Nội dung 3: Điều chế xúc tác NiO/SBA-15 biến tính CeO; với hàm lượng CeO khác nhau bằng phương pháp tam. Nội dung 4: Nghiên cứu các tính chất lý-hóa của SBA-15 va các xúc tác NiO/SBA-15, NiO/SBA-15 biến tính CeO; đã được điều chế: thành phan pha (XRD), diện tích bề mặt riêng và kích thước lỗ xốp (BET), khử chương trình nhiệt độ (Hz - TPR), hình thái bề mặt (SEM và TEM) va kha năng hấp phụ - giải hap phụ CO: của xúc tac theo chương trình nhiệt độ (CO: - TPD).
Noi dung 5: Khảo sát hoạt tính của các xúc tác trong phản ứng methane hóa CO> ở áp suất thường tai các điều kiện khác nhau về tỷ lệ COz/H; ở vùng nhiệt độ 225 — 400 °C Luận văn nay được thực hiện tại Phong Dầu khí - Xúc tác, Viện Công nghệ Hóa học, Viện Hàn lam Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam và được tài trợ bởi đề tài “CHE TẠO XÚC TÁC NICKEL CHO PHAN UNG HYDRO HÓA CO2 NONG ĐỘ CAO THÀNH METHANE”. Mã số dé tai: DLTE00. Cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. CHƯƠNG 2: TONG QUAN 2.
ANH HUONG CUA CO¿ DEN MOI TRƯỜNG Cùng với sự phát triển về dân số va kinh tế thi nhu cầu tiêu thụ các nhiên liệu hóa thạch ngày cảng cao. Điều đó dẫn đến việc phát thải khí CO2 — một loại khí gây hiệu ứng nhà kính ngày càng tăng. Theo thống kê. nông độ COz trong không khí đã tăng từ 280 ppm lên đến 370 ppm và được dự đoán sẽ tăng lên 440 ppm vào năm 2040 và 570 ppm vào cuối thé ky thứ 21 [1, 2].
Các khí gây nên hiệu ứng nhà kính bao gồm CHa, N:O, đặc biệt là COa, là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trái đất nóng lên và gây biến đổi khí hậu trên toàn cầu [3-5]. tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân cũng như nên kinh tế của các nước trên toan thế giới. Trong các loại khí nhà kính, khí CO; chiếm số lượng lớn nhất với khoảng 76%. Trong đó chỉ khoảng 11% là sẽ được hấp thu bởi cây xanh và đất.
Phần còn lại sẽ phát tán lên tầng ozone và gây nên hiệu ứng nhà kính. Cũng theo một nghiên cứu khác, nếu lay mốc là năm 2010 thì vào năm 2040 với nông độ khí COz trong không khí là 440 ppm sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng thêm 0,4 °C [2, 6]. Nhận thức được tầm quan trọng của việc cắt giảm các khí gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là CO, hiện tại đã có khoảng 191 nước tham gia nghị định thu Kyoto về cắt giảm khí thai. Theo nguyên tac chung thì nhóm các nước thuộc phụ lục nhóm I- các nước phát triển sẽ phải giảm lượng phát thải khí nhà kính xuống thấp hơn 5% lượng khí phát thải tại các nước này vào năm 1999 và cho phép các nước thuộc nhóm này có thé hỗ trợ và mua hạn ngạch phát thải khí nhà kính từ các nước đang phát triển [7, 8].
Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của thế giới trong việc giảm hiện tượng phát thải khí nhà kính thì lượng phát thải khí CO; vẫn tiếp tục tăng. Một trong những giải pháp được sử dụng hiện nay là việc hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, thay vào đó là các loại nhiên liệu tái tao, thân thiện môi trường [9, 10]. Tuy nhiên khả năng cung cấp các nguồn năng lượng thay thé mới còn hạn chế va chỉ chiếm khoảng 15 — 20% nhu cau tiêu thụ năng lượng cho toàn thế giới va chủ yếu ở dạng gỗ [11]. Bên cạnh đó, van dé về hiệu quả kinh tế, chi phí đầu tư, nguồn nguyên liệu và các van dé về công nghệ sản xuất đã khiến cho việc sử dụng các nguồn năng lượng thay thế gặp nhiều khó khăn [12, 13].
CHUYEN HÓA CO; THÀNH CAC SAN PHẨM CÓ GIA TRI Bên cạnh việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo để hạn chế việc phát thải khí nhà kính CO¿, hiện nay trên thế giới có một hướng đi mới đó là việc chuyển hóa các nguôn phát thải khí CO2 có khối lượng lớn, nồng độ cao thành các sản phẩm có giá trị. Khí CO; hiện nay được ứng dụng chủ yếu làm nguyên liệu trong công nghiệp dé sản xuất phân urea, acid salicylic, và một số dẫn xuất carbonate khác. Việc chuyển hóa khí CO; thành các hợp chất hóa học khác gặp nhiều hạn chế do CO. là một chất kém hoạt động.
yêu cầu một nguồn năng lượng lớn để chuyển đôi khí COa thành các hợp chất hóa học khác [1]. Một trong số những hướng chuyển hóa khí COz thành các sản phẩm hóa học khác như: CO, CHa, methanol, ethanol, dimethyl ether, formic acid, va formamides đã được nghiên cứu [14, 15]. Những sản phẩm đã được nghiên cứu nay có thé dễ dàng đem đốt tại các turbine khí dé phát điện như CHa hoặc có thé là hóa chất trung gian, nguồn nguyên liệu đầu vào trong ngành công nghiệp hóa chất, có nhiều tính ứng dụng hơn khi so sánh với khí CO2. Việc chuyển hóa khí CO; hiện nay phụ thuộc rất lớn vào nguồn H2, một nguồn nguyên liệu khá đắt tiền.