CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm công chứng và vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng 1.1 Khái niệm công chứng Công chứng có thể hiểu là một trong những hoạt động bổ trợ tư pháp, hoạt động công chứng có vai trò rất quan trọng đối với xã hội, với cuộc sống của nhân dân cũng như đối với quá trình phát triển của đất nước4 [23, tr. Theo Trần Thất (2012) thì hoạt động công chứng ra đời từ rất sớm trên thế giới khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên ở các nước thuộc La mã cổ đại sau đó phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và ngày nay nó xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới5 [35, tr. Việc phân loại về hình thức trong hoạt động công chứng hiện nay trên thế giới được chia làm hai nhóm chính, đó là công chứng hình thức và công chứng nội dung6 [39, tr.
Ngoài ra, khi xét về góc độ ngữ nghĩa của từ ngữ thì “công chứng” có nguồn gốc từ tiếng Latin, có ý nghĩa chỉ hoạt động sao chép hoặc hoạt động trích lục các loại văn bản, giấy tờ của người làm hoạt động công chứng 7 [36, tr. Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt thì “công chứng” là “nhân viên Tòa án trong chế độ Tư bản, phụ trách việc chứng thực và quản lý các khế ước”8 [22, tr. Tuy nhiên, khái niệm này đã đồng nhất công chứng với con người và với những công việc cụ thể trong hoạt động công chứng. Do đó, đây không 4 Hoàng Thế Liên (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam, Nxb.
5 Trần Thất (2012), Công chứng nhà nước và những vấn đề đặt ra hiện nay, Nxb. 6 Nguyễn Văn Yểu - Dương Đình Thành (1992), Những điều cần biết về công chứng nhà nước của, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 7 Trần Văn Thuận (2006), “Một số ý kiến trao đổi về dự án Luật công chứng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (8), tr.
8 Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng Hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 9 phải là một khái niệm thật sự khoa học.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “công chứng” là “chứng nhận tính xác thực, chính xác của một giao dịch”9 [38, tr. Khái niệm được nêu trong Từ điển tiếng Việt đã có sự chính xác hơn so với khái niệm trong Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt vì đã nêu lên được bản chất và ý nghĩa của công chứng. Xét về góc độ pháp lý thì có thể hiểu công chứng là một hành động có chủ đích của công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng xác nhận bằng văn bản về các nội dung liên quan của hợp đồng, giao dịch dân sự khác hoặc xác nhận về tính chính xác của một giấy tờ dịch thuật10 [11, tr.2 Khái niệm vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng Theo khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 và sửa đổi, bổ sung năm 2020, thì khái niệm về VPHC trong hoạt động công chứng có thể hiểu đơn giản là hành vi có lỗi được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức. Các hành vi có lỗi này đã vi phạm các quy định của pháp luật và bị xử phạt VPHC11 [13, tr.
Liên quan đến các hành vi VPHC có thể diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó hoạt động công chứng chỉ là một cụ thể điển hình. Các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt VPHC trong lĩnh vực này được tìm thấy trong các văn bản pháp luật liên quan như Luật XLVPHC năm 2012, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020. Tuy nhiên, các văn bản trên lại không đưa ra định nghĩa cụ thể như thế nào là vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng. Do đó, căn cứ vào các nội dung có trong luật XLVPHC năm 2012, trên cơ sở là những nội dung liên quan đến VPHC đã trình bày ở trên.
Luận văn đưa ra khái niệm về VPHC trong hoạt động công chứng như sau:“vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng là hành vi trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc 9 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2013), Đại từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 13), Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 10 Khoản 1 Điều 2 của Luật Công chứng (Luật số: 53/2014/QH13) ngày 20/6/2014.
11 Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật số 15/2012/QH13) ngày 20 tháng 6 năm 2012. 10 vô ý) do tổ chức, cá nhân (trong và ngoài nước) có năng lực trách nhiệm pháp luật hành chính thực hiện, vi phạm các quy định pháp luật về hoạt động công chứng mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”. Khái niệm, đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng 1.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng Theo pháp luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, có thể hiểu hoạt động XPVPHC là hoạt động cưỡng chế thể hiện quyền lực của nhà nước. Nó là các chế tài mà nhà nước sử dụng để trừng phạt các chủ thể VPHC.
Cũng theo khái niệm này chúng ta có thể hiểu rằng một hành vi bị coi là VPHC khi hành vi đó được quy định bởi pháp luật về XPVPHC. Do tính chất phức tạp của hoạt động công chứng, đồng thời đối tượng thực hiện là những người rất am hiểu pháp luật nên có thể nói những hành vi vi phạm của nó thường rất tinh vi, phức tạp. Do đó, việc quy định về các hành vi vi phạm và thực hiện công tác xử phạt đối với các hành vi này sẽ góp phần ngăn chặn các sai phạm xảy ra từ đó tăng cường hiệu lực của quản lý nhà nước. Hiện tại pháp luật chưa đưa ra khái niệm cụ thể về XPVPHC trong hoạt động công chứng, nhưng căn cứ vào khái niệm về VPHC trong hoạt động công chứng đã nêu ra ở trên, kết hợp với các hành vi cụ thể được quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, luận văn này đưa ra khái niệm về xử phạt VPHC trong hoạt động công chứng như sau: Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng là việc cá nhân và tổ chức có hành vi trái luật trong hoạt động công chứng bị áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả bởi chủ thể có thẩm quyền theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng Thứ nhất, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt khi người có thẩm quyền xử phạt chứng minh được hành vi này là hành vi VPPL. 11 Theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, tại Khoản 1 Điều 1 đã quy định chi tiết về một số hành vi được cho là vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng, các hành vi này là những hành vi liên quan đến hoạt động luật sư, hoạt động tư vấn pháp luật, hoạt động công chứng, giám định và nhiều hành vi khác12 [8, tr. Như vậy, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt khi có các hành vi vi phạm liên quan đến các hoạt động trên. Thứ hai, cơ sở pháp lý để xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm trong hoạt động công chứng là từ Điều 11 đến Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
Xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm trong hoạt động công chứng chỉ được tiến hành khi có vi phạm thực tế xảy ra và đây phải là các vi phạm được quy định cụ thể từ Điều 11 đến Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ- CP. Điều đó có nghĩa là các chủ thể có thẩm quyền không được xử phạt khi không có vi phạm thực tế xảy ra và cũng không được tự mình đặt ra các loại vi phạm mới khác với các vi phạm đã được quy định từ Điều 11 đến Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP13 [19, tr. Như vậy, có thể thấy rằng, các chủ thể có thẩm quyền sẽ không thể xử phạt vi phạm hành chính đối với các những hành vi tuy có dấu hiệu trái pháp luật nhưng không được quy định từ Điều 11 đến Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP. Đơn cử, trước đây, khoản 3 Điều 12 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định hành vi “làm giả giấy tờ, văn bản để được công chứng” là hành vi vi phạm về công chứng hợp đồng, giao dịch.
Tuy nhiên, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP khi được ban hành (thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi 12 Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. 13 Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật xử xử lý vi phạm hành chính 2012, Nxb. Hồng Đức, tr. 12 Nghị định số 67/2015/NĐ-CP), đã không xem đây là một vi phạm hành chính liên quan đến công chứng hợp đồng, giao dịch.
Lý giải điều này tác giả cho rằng các hành vi này đã được đề cập tại điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP nên không nhắc lại và không tách ra thành hành vi vi phạm riêng. Tuy nhiên, việc bãi bỏ quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “làm giả giấy tờ, văn bản để được công chứng” đã dẫn đến thực tế là người có thẩm quyền không có cơ sở pháp lý để xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này. Thứ ba, chủ thể bị xử phạt phải là người có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý. Theo đó chủ thể bị xử phạt VPHC trong hoạt động công chứng bao gồm: cá nhân đủ 14 tuổi trở lên, tổ chức có pháp nhân và hộ gia đình.
Qua nghiên cứu thực tiễn, các hành vi vi phạm thường gặp đối với lĩnh vực này liên quan đến các hành vi tẩy xóa, giả mạo giấy tờ hoặc cung cấp các thông tin không chính xác… khi thực hiện công chứng đều được thực hiện bởi các chủ thể từ 18 tuổi trở nên, chủ thể dưới 14 tuổi rất hiếm. Nhận định về vấn đề này chúng tôi cho rằng cá nhân đã thành niên sẽ có những quyền riêng, khác với người chưa thành niên, có thể vì mục đích cá nhân, phục vụ cho lợi ích nào đó của bản thân từ đó phát sinh những hành vi vi phạm pháp luật.