CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM AMONI VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ AMONI TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC THẢI I. Giới thiệu sơ lược về amoni Amoni là chất khí không màu, nhẹ hơn không khí, có mùi hăng (mùi khai), có khả năng tan trong nước. Amonia có hai dạng là : dạng không ion hóa - NH3 và dạng ion hóa- NH4+.Tổng NH3 và NH4+ được gọi là tổng Amoni tự do. Đối với nước uống, tổng Amoni sẽ bao gồm amoni tự do, monochloramine (NH2Cl), dichloramine (NHCl2) và trichloramine.
Amoni có mặt trong môi trường từ nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo do các qúa trình chuyển hóa từ công nghiệp, nông nghiệp. Lượng amoni trong nước bề mặt và nước ngầm thường < 0,2 mg/l các nguồn nước hiếm khí có thể lên đến 3 mg/l. Việc chăn nuôi trên quy mô lớn làm tăng lượng amoni trong nước bề mặt chúng tích tụ lâu ngày và ngấm vào trong nguồn nước ngầm làm hàm lượng amoni trong nước ngầm cũng tăng lên. Ô nhiễm amoni trong nước ở Việt Nam Theo Chi cục bảo vệ môi trường TP.HCM, kết quả quan trắc nước ngầm tầng nông gần đây cho thấy lượng nước ngầm ở khu vực ngoại thành đang diễn biến ngày càng xấu đi.
Cụ thể nước ngầm ở trạm Đông Thạch (huyện Hóc Môn) bị ô nhiễm amoni (68,73 mg/l cao gấp 1,9 lần so với năm 2005).[8] Ngoài ra còn có một số khu vực khác cũng bị ô nhiễm amoni trong nước ngầm nhưng khu vực bị ô nhiễm amoni trong nước ngầm nặng nề nhất trong cả nước là khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Theo kết quả khảo sát của trung tâm nghiên cứu thuộc trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia và trường Đại họ Mỏ - Địa chất thì phần lớn nước ngầm khu vực đồng bằng Bắc Bộ gồm các tỉnh như Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình và phía nam Hà Nội đều bị nhiễm bẩn amoni rất nặng. Xác suất các nguồn nước ngầm nhiễm amoni có nồng độ cao hơn tiêu chuẩn nước sinh hoạt (3 mg/l) khoảng 70-80%[8] Trong nhiều nguồn nước ngầm còn chứa nhiều hợp chất hữu cơ, độ oxi hoá có nguồn đạt 30-40 mg O2/l[8]. Có thể cho rằng phần lớn các nguồn nước ngầm đang sử dụng không đạt tiêu chuẩn về amoni và các chất hợp chất hữu cơ.
Theo kết quả khảo sát của các nhà khoa học Viện Địa lý thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam thì hầu như các mẫu nước từ các huyện của tỉnh Hà Nam đều có tỷ lệ nhiễm amoni ở mức đáng báo động. Chẳng hạn như tại Lý Nhân có mẫu nước với hàm lượng lên tới 111,8 mg/l gấp 74 lần so với tiêu chuẩn BỘ Y Tế (TC BYT), còn ở Duy Tiên là 93,8 mg/l gấp 63 lần.[8] Trong khi đó, các kết quả khảo sát của trường Đại Học Mỏ - Địa chất Hà Nội cũng cho biết chất lượng nước ngầm ở tầng mạch nông và mạch sâu tại các địa phương này cũng có hàm lượng Nitơ trung bình > 20 mg/l vượt mước tiêu chuẩn Việt Nam cho phép rất nhiều lần. Nguồn gây ô nhiễm amoni trong nước a. Nguồn gốc tự nhiên Do khoáng hóa các N hữu cơ bởi các vi sinh vật đặc biệt sống trong các nốt sần ở cây họ đậu, khi cây chết đi theo nước ngấm ở trên bề mặt xuống ngấm xuống nước ngầm.
Do các vùng nước tù đọng trên mặt đất lâu ngày trong điều kiệm pH<8 và yếm khí sinh ra NH4+. Nguồn N trong không khí N2 được các loại vi khuẩn, vi sinh vật chuyển hóa, từ môi trường không khí vào môi trường đất và nước. Nguồn gốc nhân tạo - Hiện nay tuy nền nông nghiệp và công nghiệp phát triển, sự tập trung dân cư đông nhưng chưa tới mức độ căng thẳng song sự ô nhiêm nguồn nước đã bắt đầu xuất hiện do việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón. trong nông nghiệp.
- Do xác chết của các loài thủy sinh trong nước phân hủy sinh ra amonia. - Trong chăn nuôi, các loại nước rửa chuồng trại không được xử lý triệt để. - Các nguồn nước thải của các nhà máy luyện kim, hóa chất, diệt nhuộm, thực phẩm, cùng với thoát nước lạc hậu và việc xử lý các loại nước thải sinh hoạt không triệt để. Độc tính của amonni ảnh hưởng tới các loài và con người - Bản thân Amoni không quá độc với cơ thể, nhưng nếu tồn tại trong nước với hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nó có thể chuyển hóa thành các chất gây ung thư và các bệnh nguy hiểm khác.
Các nghiên cứu cho thấy, 1g amoni khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2,7 g nitrit và 3,65 g nitrat. Trong khi hàm lượng cho phép của nitrit là 0,1 mg/lít và nitrat là 10-50 mg/lít[8]. - Ô nhiễm amoni trong nước gây ảnh hưởng đến các loài thủy sinh sống trong nước, nồng độ amoni trong nước ở mức 0,2 mg/l[1] là đã gây tổn hại đến các loài cá và các sinh vật khác sông trong nước. - Từ các nguồn ô nhiễm amoni kể trên, lâu ngày sẽ ngấm xuống nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, trong nước ngầm amoni không thể chuyển hóa do thiếu oxy.
Sau khi khai thác lên, vi sinh vật trong nước nhờ có oxy trong không khí chuyển hóa amoni trong nước thành nitrit NO2-và nitrat NO3- tích tụ trong nước ăn uống. Khi sử dụng nước có hàm lượng nguồn nước có tổng hàm lượng các chất chứa nitơ hòa tan > 10 mg/l tính theo nitơ nguyên chất gây ra bệnh methemoglobineamia còn gọi là bệnh blue-baby ở trẻ em lượng NH4+, NO2- , NO3-, xâm nhập vào máu oxy hóa hemoglobin thành methemoglobineamia mất khả năng vận chuyện oxy của máu. Dặc biệt là trẻ em dươi 3 tuổi bị cản trở trao dổi oxy ở não bộ, thiếu oxy trong máu và ở não bộ, gây ngạt thở dân đến tử vong[8]. - Nitrit đặc biệt nguy hiểm cho trẻ mới sinh dưới sáu tháng, nó có thể làm chậm sự phát triển, gây bệnh ở đường hô hấp.Đối với người lớn, nitrit kết hợp với các axit amin trong thực phẩm làm thành một họ chất nitrosamin.
Nitrosamin có thể gây tổn thương di truyền tế bào – nguyên nhân gây bệnh ung thư. Những thí nghiệm cho nitrit vào thức ăn, nước uống củachuột, thỏ… với hàm lượng vượt ngưỡng cho phép thì sau một thời gian thấy những khối u sinh ra trong gan, phổi, vòm họng của chúng. - Bên cạnh đó hàm lượng NH4+ trong nước cao còn gây ra các ảnh hưởng sau: ✓ Nó kết hợp với clo tạo gốc cloramin làm giảm hiệu khử trùng. ✓ Nó là nguồn nitơ thứ cấp sinh ra nitrit trong nước, có khả năng gây ung thư.
✓ NH4+ là nguồn dinh dưỡng để tảo, dong, rêu, vi sinh vật phát triển gây ăn mòn đường ống, rò rỉ và mất mỹ quan. Các phương pháp xử lý amoni trong nước Trong nước thải Amoni là thành phần khá phổ biến. Các dòng thải chứa hàm lượng Amoni cao có thể gây độc đối với môi trường nước, gây ra hiện tượng giảm nồng độ oxi trong nước, hiện tượng phú dưỡng, ảnh hưởng đến khả năng loại bỏ Clo. Vì vậy loại bỏ amoni trong nước thải là cần thiết.
Quá trình loại bỏ các amoni trong nước hiện nay chủ yếu là sử dụng các quá trình sinh học hay các quá trình kết hợp giữa hóa lý và vật lý [21]. Nước thải Ion amoni Xử lý Hấp phụ Trao đổi ion Sinh học Phương pháp khác zeolits Vật liệu nano Vật liệu sinh hydrogel học Nước sạch Hình 1.Tổng quan các phương pháp xử lý amoni trong nước( tài liệu tham khảo) Có rất nhiều phương pháp xử lý amoni trong nước cấp và nước thải đã được các nước trên thế giới thử nghiệm và đưa vào áp dụng: làm thoáng để khử NH3, ở môi trường pH cao (pH= 10-11); clo hóa với nồng độ cao hơn điểm đột biến trên đường cong hấp thụ clo trong nước, tạo cloramin trao đổi ion NH4+ và NO3- bằng các vật liệu trao đổi cation/anion như Klynoptilolyle hay Sepiolite; Nitrat hóa bằng các phương pháp sinh học; nitrat hóa kết hợp khử nitrat; công nghệ anammox; phương pháp điện hóa, điện thẩm tách, điện thẩm tách đảo chiều [7]. Phương pháp hóa học A. Oxy hóa bằng không khí-phương pháp làm thoáng [7][8] Nitơ tồn tại trong nước ở nhiều dạng khác nhau, N-NH4+ tồn tại trong nước trong điều kiện yếm khí và pH<8, khi pH > 8 N-NH4+ sẽ tồn tại ở dạng N-NH3 bay lên, trong môi trường có oxy ở tùy từng nồng độ oxy khác nhau sẽ bị oxy hóa thành NO2-, NO3- Muốn khử NH4+ ra khỏi nước bằng phương pháp làm thoáng, phải đưa pH của nước nguồn lên 10.0 để biến 99% NH4+ thành khí NH3 hòa tan trong nước.
❖ Ưu điểm - Thích hợp cho xử lý nước thải, xử lý được nồng độ amoni đầu vào lớn 200 – 4000 mg/l [6]. - Hiệu quả xử lý cao 90 – 95%[6], thời gian xử lý ngắn. ❖ Nhược điểm - Phải nâng pH của môi trường lên cao, phải điều chỉnh lại pH trước và sau phản ứng - Tốn chi chí để nâng pH - Phản ứng phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ của môi trường B. Phương pháp clo hóa đến điểm đột biến [7][8] Phương trình tổng: 3HClO + 2NH3 → N2 + 3HCl + 3H2O Axit hypoclorit kết hợp với NH4+ tạo thành Cloramin.
Khi nhiệt độ nước ≥200C, pH ≥7. Khi cho vào nước với liều lượng 2,6 mg clo cho 1 mg NH4+ quá trình chuyển hóa NH4+ và clo thành cloamin khoảng 30 phút. Sau đó cho tiếp 10 mg clo, clo trong nước tạo thành hypoclorit sẽ oxy hóa hết cloamin. Quá trình kết thúc sau 3 phút khuậy trộn nhẹ.
Tại điểm oxy hóa hết Cloramin và trong nước xuất hiện Clo tự do gọi là điểm đột biến. Sau khi khử hết NH4+ trong nước còn lại lượng clo dư lớn, phải khử clo dư trước khi cấp cho người tiêu thụ. Quá trình diễn ra hoàn chỉnh sau 15 phút khuấy trộn đều hóa chất và nước ❖ Ưu điểm - Phản ứng xảy ra trong thời gian ngắn, đơn giản, chi phí đầu tư thấp. ❖ Nhược điểm - Quá trình phản ứng sinh ra các hợp chât gây mùi kho chịu và có khả năng gây ung thư [8].
- Clo gây ăn mòn đường ống, ăn mòn thiết bị→khó khăn trong áp dụng trong thực tế và mở rộng phương pháp. - Trong thực tế rất khó để tìm thấy điểm đột biến. Phương oxy hóa bằng 03 với xúc tác bromua [8] Để khắc phục nhược điểm của phương pháp clo hóa người ta thay thế tác nhân oxy hóa bằng ozon và bromua. Về cơ bản việc xử lý NH4+ bằng ozon dưới sự có mặt của ion Br cũng diễn ra theo cơ chế giống như phương pháp xử lý dùng clo.