CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay sự phá hủy tầng ozone (ODP – Ozone Depletion Potential) và nóng lên toàn cầu (GWP – Global Warming Potential) đang được thế giới chú trọng. Một trong những nguồn phát thải CO2 lớn nhất đó là trong lĩnh vực lạnh: Lạnh công nghiệp, lạnh thương mại và sự phát triển nhanh chóng của máy điều hòa không khí. Chính vì vậy, các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu các môi chất lạnh tự nhiên, các môi chất lạnh mới để giảm sự phá hủy tầng ozone và nóng lên toàn cầu.
Trong các môi chất lạnh, môi chất lạnh CO2 là một trong những môi chất lạnh tự nhiên đầy hứa hẹn trong tương lai không có tiềm năng suy giảm ozone (ODP = 0) và có chỉ số nóng lên toàn cầu thấp (GWP = 1). Tuy nhiên, điểm tới hạn của môi chất lạnh CO2 có nhiệt độ, áp suất tương ứng là 310C; 73,6 bar. Nhiệt độ tới hạn thấp nhưng áp suất cao yêu cầu công nghệ gia công các thiết bị, đường ống trong hệ thống lạnh phải đảm bảo an toàn cho người và thiết bị. Chính vì vậy cần phải giảm áp suất (hay nhiệt độ) này xuống thấp hơn.
Một trong những giải pháp để giảm nhiệt độ môi chất lạnh CO2 ngưng tụ đó là thêm một chu trình lạnh sử dụng môi chất lạnh (khác môi chất CO2) để sử dụng năng suất lạnh này làm lạnh môi chất lạnh CO2. Phương pháp này gọi là ghép tầng. Hay nói cách khác, môi chất lạnh CO2 rất phù hợp cho chu trình máy lạnh ghép tầng với CO2 đảm nhiệm tầng nhiệt độ thấp. Đến hiện tại, các nhà khoa học vẫn chưa tìm được nhóm môi chất lạnh nào thân thiện với môi trường và có năng suất lạnh cao như nhóm môi chất lạnh HFC.
Môi chất lạnh R134a là một trong những môi chất lạnh thuộc nhóm HFC đang được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp và dân dụng. Tuy nhiên các kết quả thực nghiệm về môi chất lạnh R134a dùng trong chu trình tầng cao trong hệ thống lạnh ghép tầng chưa nhiều. 1 Luan van Theo các công bố khoa học chính thống thì ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về máy lạnh ghép tầng dùng môi chất R134a/CO2, trên thế giới nghiên cứu cũng không nhiều cho chế độ trữ đông. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực nghiệm xác định các thông số nhiệt động của hệ thống lạnh ghép tầng R134a/CO2” là rất cần thiết.
Nghiên cứu này đưa ra một trường hợp cụ thể (case study) cho tính toán thiết kế và thực nghiệm một hệ thống lạnh ghép tầng có quy mô nhỏ làm nền tảng cho việc phát triển các hệ thống trữ đông công suất lớn. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Liên quan đến hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng môi chất lạnh CO2 ở chu trình nhiệt độ thấp, Jadhav cùng với cộng sự [1] tiến hành so sánh đánh giá các chu trình lạnh ghép tầng với các cặp môi chất lạnh khác nhau. CO2 được sử dụng trong tầng thấp trong khi R134a, R290, R717 và R404A được sử dụng trong chu trình nhiệt độ cao như sơ đồ Hình 1.
Ảnh hưởng của các thông số nhiệt động đến hệ thống lạnh ghép tầng để tìm cặp môi chất lạnh làm việc tốt nhất. Kết quả là COP của cặp môi chất lạnh CO2/NH3 cao hơn so với các cặp môi chất lạnh CO2/R134a, CO2/R290 và CO2/R404A cùng một nhiệt độ ngưng tụ ở chu trình nhiệt độ cao, nhiệt độ bay hơi ở tầng thấp và nhiệt độ ngưng tụ ở chu trình nhiệt độ thấp. COP của hệ thống CO2/R717 tăng từ 1.08 khi nhiệt độ thiết bị bay hơi tầng thấp thay đổi từ - 55ºC đến -30ºC. COP của hệ thống CO2/R717 giảm từ 1.285 ở nhiệt độ ngưng tụ chu kỳ nhiệt độ cao thay đổi từ 300C đến 450C.1: Sơ đồ hệ thống lạnh ghép tầng [1] 2 Luan van Patel cùng với cộng sự [2] đã tiến hành nghiên cứu tối ưu hiệu suất và phân tích so sánh hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng NH3/CO2 và C3H8/CO2.
Hệ thống lạnh ghép tầng làm việc với CO2 chu trình có nhiệt độ thấp, NH3 và C3H8 chu trình có nhiệt độ cao. Bốn thông số vận hành: Nhiệt độ bay hơi, nhiệt độ ngưng tụ, nhiệt độ ngưng tụ chu trình nhiệt độ thấp, độ chênh lệch nhiệt độ ghép tầng được nghiên cứu để tối ưu. Kết quả cặp môi chất lạnh C3H8/CO2 chi phí thấp hơn 5,33% và sự phá hủy exergy cao hơn 6,42% so với cặp môi chất lạnh NH3/CO2. Bhattacharyya cùng với cộng sự [3] tối ưu hóa hệ thống ghép tầng CO2/C3H8 để làm lạnh và sưởi ấm.
Trong bài này, môi chất lạnh propan sử dụng cho chu trình nhiệt độ cao và carbon dioxide chu trình nhiệt độ thấp trên các ứng dụng làm lạnh và sưởi ấm. Kết quả là hiệu suất tổng thể của hệ thống ghép tầng bất biến với hiệu quả của chu trình propan và tăng khi hiệu quả của chu trình nhiệt độ cao được tăng lên. COP của hệ thống ghép tầng tăng khi nhiệt độ không gian lạnh tăng và COP giảm khi nhiệt độ sưởi ẩm đầu ra tăng. Hệ thống ghép tầng carbon dioxide-propane có phạm vi hoạt động rộng hơn trong các ứng dụng sưởi ấm và làm mát so với hệ thống lạnh ghép tầng carbon dioxide – ammonia.
Hệ thống ghép tầng này có thể hoạt động đồng thời giữa nhiệt độ không gian làm lạnh -400C và nhiệt độ sưởi ẩm khoảng 1200C. Nasruddin cùng với cộng sự [4] tối ưu hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng môi chất lạnh C3H8 trong chu trình nhiệt độ cao và hỗn hợp C2H6/CO2 trong chu trình nhiệt độ thấp. Các nhiệt độ bay hơi, nhiệt độ ngưng tụ, nhiệt độ ngưng tụ hỗn hợp C2H6/CO2, độ chênh nhiệt độ ghép tầng và khối lượng CO2 được chọn là biến quyết định. Nhiệt độ vận hành và khối lượng CO2 nên được thêm vào để tạo ra một hệ thống tối ưu cả về kinh tế và nhiệt động.
Trong khi đó công suất làm mát, nhiệt độ không gian làm lạnh và nhiệt độ môi trường được coi là những ràng buộc. Khi nhiệt độ bay hơi Te = 490C; nhiệt độ ngưng tụ Tc = 560C; nhiệt độ bay hơi (HTC) Tme= 9,960C; T = 3,370C và khối lượng CO2 = 0,68 với tổng số phá hủy exergy 39876,04W và tổng chi phí hàng năm là 51070,59$. Lee cùng với hai cộng sự [5] đã tiến hành phân tích nhiệt động để tối ưu nhiệt độ ngưng tụ ghép tầng của một hệ thống lạnh ghép tầng CO2/NH3 như Hình 1. Xác 3 Luan van định nhiệt độ ngưng tụ tối ưu của thiết bị ngưng tụ ghép tầng theo các thông số thiết kế khác nhau để hệ thống có COP cao nhất và exergy giảm nhỏ nhất.
Các thông số thiết kế bao gồm: nhiệt độ bay hơi, nhiệt độ ngưng tụ và chênh lệch nhiệt độ trong thiết bị ngưng tụ tầng. Kết quả là nhiệt độ ngưng tụ tối ưu của ngưng tụ ghép tầng phụ thuộc vào các thông số nhiệt độ bay hơi, nhiệt độ ngưng tụ và chênh lệch nhiệt độ trong thiết bị ngưng tụ tầng. Giá trị COP tăng khi nhiệt độ bay hơi tăng và giảm nhiệt độ ngưng tụ và chênh lệch nhiệt độ trong thiết bị ngưng tụ tầng tăng.2: Sơ đồ nguyên lý hệ thống lạnh ghép tầng R744/R717 [5] Tiếp theo, Getu và Bansal [6] đã phân tích nhiệt động hệ thống lạnh ghép tầng carbon dioxide–ammonia R744/R717 để tối ưu hóa tối ưu hóa các thông số thiết kế và vận hành hệ thống. Các thông số thiết kế và vận hành bao gồm (1): Nhiệt độ ngưng tụ, quá lạnh, nhiệt độ bay hơi, quá nhiệt của chu trình nhiệt độ cao ammonia (R717); (2) độ chênh nhiệt độ trong thiết bị trao đổi nhiệt ghép tầng; (3) Nhiệt độ bay hơi, quá nhiệt, ngưng tụ, quá lạnh của tầng thấpcarbon dioxide (R744).
Kết quả là khi độ quá nhiệt tăng thì tỷ lệ lưu lượng khối lượng tăng nhưng COP giảm và khi nhiệt độ bay hơi tăng thì cả tỷ lệ lưu lượng khối lượng và COP tăng. Khi nhiệt độ ngưng tụ tăng dẫn đến COP giảm và tỷ lệ lưu lượng môi chất lạnh tăng. Nhiệt độ bay hơi tăng thì COP của hệ thống tặng và tỷ lệ lưu lượng giảm. Độ chênh nhiệt độ trong thiết bị ngưng tụ ghép tầng tăng làm tỷ lệ lưu lượng khối lượng và COP của hệ thống giảm.
4 Luan van Bên cạnh đó, Mosaffa cùng với cộng sự [7] phân tích so sánh hệ thống lạnh ghép tầng CO2/NH3 trong 2 hệ thống: Hệ thống (1) hai bộ tách lỏng; hệ thống (2) một bộ tách lỏng với bình quá lạnh gián tiếp để tối đa hóa hệ số hiệu suất (COP) và hiệu suất exergy và giảm tổng chi phí hàng năm. Các thông số vận hành được xem xét bao gồm: Nhiệt độ ngưng tụ NH3 trong thiết bị ngưng tụ và CO2 trong thiết bị trao đổi nhiệt ghép tầng, nhiệt độ bay hơi của CO2 trong thiết bị bay hơi, độ chênh nhiệt độ trong bộ trao đổi nhiệt ghép tầng, áp suất trung gian của bộ tách lỏng trong chu trình CO2 nhiệt độ thấp, tỷ lệ lưu lượng khối lượng và độ quá nhiệt của CO2 tại đầu ra thiết bị bay hơi. Kết quả cho thấy, tổng chi phí hàng năm cho hệ thống (1) là 11,2% và thấp hơn 11,9% so với hệ thống (2). Đối với nhiệt động và chi phí tối ưu điều kiện thiết kế COP và hiệu quả exergy của cả hai hệ thống là gần như nhau.
Hơn nữa, Ma cùng với hai cộng sự [8] trình bày một hệ thống lạnh ghép tầng CO2/NH3, trong đó thiết bị ngưng tụ bay hơi dạng màn được sử dụng như bộ trao đổi nhiệt ghép tầng. Các kết quả phân tích nhiệt động của hệ thống cho thấy sự cải thiện hệ số hiệu suất (COP) do chênh lệch nhiệt độ nhỏ hơn trao đổi nhiệt ghép tầng. Hơn nữa, một mô hình dựa trên phương pháp NTU được phát triển bằng cách xem xét các ràng buộc của tổng độ dẫn nhiệt. Mô hình được phát triển sau đó được sử dụng để kiểm tra ảnh hưởng của các thông số chính trên các cấu hình hệ thống theo điều kiện COP tối đa.
Kết quả là khi COP của hệ thống tối đa, tỷ lệ phân bố độ dẫn nhiệt bị chi phối chủ yếu bởi sự chênh lệch nhiệt độ của ba bộ trao đổi nhiệt và hệ số hiệu suất của thiết bị ngưng tụ và thiết bị bay hơi. Nghiên cứu này có thể góp phần để phát triển hơn nữa và tối ưu hóa thiết kế các hệ thống lạnh ghép tầng CO2/NH3. Gholamian cùng với cộng sự [9] phân tích nâng cao exergy của hệ thống lạnh ghép tầng Carbon dioxide – Ammoniac. Trong nghiên cứu hiện tại, một hệ thống lạnh ghép tầng NH3/CO2 được mô hình hóa và đánh giá.
Sử dụng phần mềm (EES) cho mục đích mô phỏng.