Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN. GIỚI THIỆU VỀ ĐĂNG THUỲ TRÂM VÀ HAI TẬP NHẬT KÝ CỦA CHỊ 1. Khái niệm về thể loại kí Tên gọi chung một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tƣ liệu các loại…) chủ yếu là văn xuôi tự sự, gồm các thể nhƣ bút kí, hồi kí, kí sự, nhật kí… Kí nói chung khác với truyện ở chỗ trong tác phẩm kí không có xung đột thống nhất; phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu tả, tƣờng thuật. Đề tài và chủ đề không phải vấn đề sự hình thành tính cách của cá nhân trong tƣơng quan với hoàn cảnh, mà là các vấn đề trạng thái dân sự (kinh tế - xã hội – chính trị) và trạng thái tinh thần (văn hoá, đạo đức) của bản thân môi trƣờng xã hội.
Do hƣớng tới những phạm vi thông tin và nhận thức đa dạng, kí cũng rất đa dạng về kiểu loại và kết cấu. Văn học thể kí là một bộ phận hợp thành của hầu hết các nền văn học hiện đại. Việc thừa nhận thuộc tính văn học của những tác phẩm kí nhất định đôi khi tuỳ thuộc vào quan niệm đƣơng thời ở từng nền văn học về tính văn học; nhƣng các đặc điểm về văn phong, về ngôn từ nghệ thuật thƣờng luôn luôn đƣợc tính đến, bên cạnh sự gần gũi với văn học trong các vấn đề mà tác phẩm kí đề cập. Có những tác phẩm chú ý đến bình diện “miêu tả phong tục” qua những nét tính cách tiêu biểu; có những tác phẩm chú ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc trong cuộc sống của cƣ dân, các vùng qua các thời đại, có những tác phẩm đậm chất trữ tình, triết lý … Một bộ phận lớn tác phẩm kí nghiêng về tính báo chí, tính chính luận, 9 biểu thị sự quan tâm mang tính thời sự đến các trạng thái và xu hƣớng nhất định của sự phát triển xã hội.
Lại còn có một bộ phận không nhỏ tác phẩm kí đậm đặc tính tƣ liệu, hƣớng vào việc tái hiện chính xác các sự kiện và hiện tƣợng có thực và thƣờng kèm theo sự lý giải và đánh giá của tác phẩm. Loại này thƣờng đƣợc xem nhƣ một thể loại của chính luận, của báo chí. Nhƣng một số nhà nghiên cứu lại muốn xem đây là kí, thậm chí kí văn học với lập luận rằng tính tƣ liệu là dấu hiệu thể loại đặc trƣng của kí. Về kết cấu, kí rất đa dạng.
Chúng có thể đƣợc tạo thành từ những phần vốn chỉ gần với nhau bằng một trật tự bề ngoài, đề tài có đoạn mô tả, làm dấu hiệu để ráp nối hoặc lấy các ý bình luận về các sự việc đƣợc miêu tả làm dấu hiệu ráp nối. Để tạo ra sự thống nhất cho các thành phần vốn dị biệt nhau, đôi khi ngƣời viết sử dụng hình tƣợng ngƣời kể chuyện, vai này sẽ mô tả các cuộc gặp gỡ và trò chuyện với các nhân vật bộc lộ những quan sát, ấn tƣợng, ý kiến khái quát của mình. Sáng tác văn học thể kí thƣờng thịnh hành ở các giai đoạn Văn học sử ứng với thời kỳ xã hội có sự khủng hoảng của các quan hệ cũ, nảy sinh một nếp sống mới, làm tăng cƣờng chú ý đến sự miêu tả các thói tục. Ví dụ ở nƣớc Anh đầu thế kỷ XVIII.
Khi các tạp chí châm biếm của R.Addison đăng những bài phác hoạ chân dung và cảnh sinh hoạt. Hoặc ở Nga, giữa thế kỷ XIX, khi chế độ nông nô khủng hoảng, quý tộc suy thoái, hạ lƣu bị bần cùng, thể kí trở thành một trong những thể loại chủ đạo của văn học. Ở văn học Việt Nam nhƣng năm 30 thế kỷ XX chứng kiến sự nảy nở của các tác phẩm phóng sự viết về các tệ nạn ở xã hội đô thị hoá. Ở văn học XHCN, bộ phận văn học thế kí đáng chú ý là những tác phẩm viết về chiến tranh, hoặc những tác phẩm nêu vấn đề kinh tế - xã hội, mang cảm hứng nghiên cứu đời sống 10 1.
Một số khái niệm có liên quan trong phân tích tác phẩm văn học 1. Ngôn từ nghệ thuật Ngôn từ nghệ thuật là khái niệm chỉ loại hình ngôn ngữ dùng để biểu đạt nội đúng hình tƣợng của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (Sáng tác lời truyền miệng và văn học viết).Gorki gọi nó là "yếu tố thứ nhất của văn học" và coi nó là công cụ chủ yếu của tác phẩm văn học. Bởi xét về chất liệu, khi sáng tác văn học, nhà văn buộc phải sử dụng ngôn từ nhƣ một chất liệu, biện pháp. Nhà văn thông qua lăng kính ngôn ngữ mà cảm nhận cảm xúc của mình, thể nghiệm sức sống, phong phú đa dạng của muôn loài.
Ngôn từ nghệ thuật thể hiện đặc điểm tƣ duy nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn, vừa có tính trực giác, vừa có tính cá thể. Ngôn từ nghệ thuật khác với ngôn từ thông thƣờng ở chỗ nó sử dụng liên tục chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ; trong khi đó ở các dạng thức khác của lời nói, chức năng này chỉ biểu lộ thất thƣờng. Lời nói thƣờng giải quyết các nhiệm vụ tức thời, một lần; ngôn từ trong tác phẩm không chỉ có tác dụng đó, thậm chí, trái lại, nó có tham vọng trở thành lời nói cho nhiều lần, với muôn đời. Lời nói phụ thuộc vào hoàn cảnh nói mà ngƣời nghe phải hiểu biết đầy đủ hoàn cảnh đó thì mới hiểu đƣợc; trái lại ngôn từ nghệ thuật đƣợc viết ra với dụng ý tạo nên một sản phẩm tƣơng đối độc lập với hệ thống giao tiếp tự nhiên.
Nó có thể bị tách rời ngữ cảnh tức thời và tham gia vào nhiều ngữ cảnh khác. Lời nói thông thƣờng không trọn vẹn, đầy đủ; ngôn từ nghệ thuật trái lại, luôn luôn là hiện tƣợng trọn vẹn, đầy đủ để tự nó có thể thuyết minh ý nghĩa của nó trong môi trƣờng giao tiếp văn học. Trong giao tiếp thông thƣờng ngƣời ta có thể nói bằng nhiều cách để diễn đạt một ý. Trong nghệ thuật, nhà văn hoàn thiện văn bản, tạo thành lời văn ngôn từ nghệ thuật duy nhất hợp với ý tình định nói.
Tính hiện thực trong tác phẩm văn học Thuật ngữ tính hiện thực đƣợc các nhà nghiên cứu sử dụng với cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này biểu hiện một thuộc tính của văn học trong mối liên hệ với hiện thực, khẳng định sự phụ thuộc của văn học vào hiện thực khách quan. Mác viết: “Vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh của vận động hiện thực được di chuyển vào và được sự cải tạo trong đầu óc của con người” Kế thừa quan niệm đó, Lê Nin viết: “Kết luận duy nhất của mọi người rút ra trong đời sống thực tiễn, kết luận mà chủ nghĩa duy vật lấy làm cơ sở cho nhận thức luận của mình một cách tự giác là: có những đối tượng, vật, vật thể, tồn tại ở ngoài chúng ta, không lệ thuộc vào chúng ta, và cảm giác của chúng ta đều là hình ảnh của thế giới bên ngoài”. Nhƣ thế có nghĩa hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức.
Mà văn học là một hình thái ý thức, một hình thức của nhận thức, do đó hiện thực đời sống là mảnh đất màu mỡ nuôi dƣỡng nghệ thuật và đồng thời là cái chìa khoá giải thích đƣợc những hiện tƣợng phức tạp của nghệ thuật. Ngƣợc lại, khi phản ánh hiện thực, văn học có khả năng hiểu biết và khám phá đƣợc bản chất hoặc những khía cạnh bản chất của hiện thực. Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ tính hiện thực chỉ mối tƣơng quan phù hợp nhƣ thật giữa phản ánh của văn học với các hiện thực đời sống đƣợc miêu tả. Ở trƣờng hợp này tính hiện thực sẽ trái với khái niệm ƣớc lệ.3 Hình tượng nhân vật Nhân vật có thể coi là linh hồn của tác phẩm văn học.
Đọc một tác phẩm nào đó, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn ngƣời đọc không phải là sự kiện chính trị xã hội, không phải là bức tranh thiên nhiên, càng không phải là những lời bình luận, dẫn chuyện. mà thƣờng là số phận, xúc cảm, 12 suy tƣ của những con ngƣời đƣợc nhà văn thể hiện. "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác " (Tô Hoài). Theo Từ điển văn học: “Nhân vật văn học là thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại trọn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ.
Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người.” Hình tƣợng nhân vật trong tác phẩm văn học cho dù lấy từ nguyên mẫu ngoài đời hay không cũng không bao giờ giống nguyên xi nhân vật trong cuộc sống thực. Đó phải là những con ngƣời đƣợc nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phƣơng tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ, và mang đậm dấu ấn phong cách của nhà văn. Qua nhân vật mình sáng tạo, nhà văn muốn thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm nghệ thuật về cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là phƣơng tiện khái quát tính cách, số phận con ngƣời và các quan niệm về chúng của nhà văn trong một thế giới đời sống, một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định.
Để xây dựng đƣợc những nhân vật trọn vẹn ấy ở văn học trong giới hạn khả năng nghệ thuật ngôn từ, nhà văn thƣờng khắc hoạ con ngƣời với toàn bộ đặc điểm về ngoại hình và nội tâm (nét mặt, dáng ngƣời, tên riêng, lối nghĩ hành động, thế giới tinh thần, tâm hồn,. Những đặc điểm này lại rất gần với khái niệm tính cách nhân vật. Do vậy, khi tìm hiểu về hình tƣợng nhân vật, chúng ta không thể không đi sâu vào phạm trù tính cách - một trong những thành tố cơ bản trong dấu ấn tƣ tƣởng của nhà văn trong tác phẩm văn học. Hoàn cảnh điển hình “Phạm trù điển hình là phạm trù quan trọng nhất của mỹ học hiện thực” (X.
Tính điển hình là hình thức biểu hiện ở trình độ cao 13 của hình tƣợng trong tác phẩm văn học. Nói đến vấn đề điển hình là nói đến hai bình diện cơ bản cấu thành nên nó: tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình. Tính cách điển hình là sự tổng hợp thẩm mĩ trong sự thống nhất hữu cơ giữa những đặc tính phổ biến và những đặc tính cá biệt, đặc thù trong một nhân vật.