CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ QUẶNG APATIT 1. Giới thiệu về quặng apatit Apatit là một nhóm các khoáng vật photphat gồm hydroxyapatit, floroapatit, cloroapatit. Các loại apatit này được gọi tên do trong thành phần tinh thể của chúng có chứa các ion OH-, F- và Cl- [2].
Công thức chung của apatit thường được biểu diễn theo dạng nhóm thành phần như Ca 5(PO4)3(OH, F, Cl), hoặc theo công thức riêng của từng loại khoáng vật riêng lẻ tương ứng như: Ca5(PO4)3(OH), Ca5(PO4)3F và Ca5(PO4)3Cl. Tỷ lệ các oxit trong quặng apatit được xác định: P2O5 (10 ÷ 42,26%), Al2O3 (0,82%), CaO (42,39%), Fe2O3 (1,15%), F (3,78%), MgO (4,86%) [3]. Quặng apatit tồn tại ở nhiều dạng khác nhau tùy thuộc quá trình hình thành quặng. Quặng apatit thường đi kèm với các hợp phần khoáng phức tạp.
Trên thế giới có 25 điểm quặng gốc chứa apatit được khai thác, thì chỉ có trên 10 điểm apatit được coi như sản phẩm chính, apatit còn lại ở các điểm khác chỉ được coi là sản phẩm phụ của quá trình khai thác các nguyên tố hiếm. Theo thống kê, trữ lượng toàn cầu quặng photphat theo tính toán ước lượng khoảng 63,1 tỷ tấn, tập trung nhiều ở Marốc và Tây Sahara, đủ dùng trong 450 – 500 năm, trong đó 91,6% (khoảng 57,2 tỷ tấn P2O5) là quặng photphorit và 8,4% (5,3 tỷ tấn P2O5) ở dạng apatit [4]. Những bể quặng apatit chủ yếu phân bố ở Nga, Cộng hòa Nam Phi, Braxin, Phần Lan, Dimbabue, Canada, còn photphorit có ở nhiều nơi nhất là ở Châu Phi, Bắc Mĩ. Khai thác, chế biến quặng photphat là một trong những ngành công nghiệp quan trọng.
Người ta tính rằng hơn 90% lượng quặng photphat được sử dụng cho ngành phân bón. Bốn nhà sản xuất quặng apatit lớn nhất toàn cầu bao gồm OCP Group (Marốc), Mosaic (Mỹ), Cie. Quặng photphat được khai thác tại khoảng 40 quốc gia, trong đó 12 quốc gia đã chiếm tới 92% sản lượng toàn thế giới. Các quốc gia nhập khẩu quặng photphat lớn nhất bao gồm Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản.
6 Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA) đã nêu lên mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mức tăng dân số thế giới và mức tăng sản lượng khai thác photphat. Theo tính toán, đến năm 2040 dân số đạt 9,2 tỷ người thì sản lượng khai thác photphat đạt 260 – 300 triệu tấn [4]. Quặng apatit được khai thác và sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Trên thế giới, xu hướng hiện tại là đầu tư sản xuất DAP (diammonium phosphate) và MAP (Mono-Ammonium Phosphate).
Tổng quan về quặng apatit Việt Nam Quặng apatit Lào Cai thực chất là một kiểu metaphotphorit trầm tích biển nhưng đã bị biến chất. Đây là loại quặng photphat - cacbonat ở dạng hỗn hợp francolit hoặc floroapatit với đolomit. Do biến chất và phong hóa, francolit biến đổi thành floroapatit do mất CO2. Tuy có nguồn gốc trầm tích nhưng do bị biến chất nên kích thước tinh thể floroapatit của metaphotphorit Lào Cai xấp xỉ bằng kích thước tinh thể floroapatit của quặng apatit - nephelin Khibin (Kola) có nguồn gốc macma.
Ở Việt Nam, quặng apatit phân bố chủ yếu dọc theo bờ phải sông Hồng thuộc địa phận Lào Cai. Mỏ apatit Lào Cai có chiều dày 200m, rộng từ 1 – 4 km chạy dài 100 km nằm trong địa phận Việt Nam, từ Bảo Hà ở phía Đông Nam đến Bát Xát ở phía Bắc, giáp biên giới Trung Quốc. Trữ lượng quặng apatit đã được thăm dò và xác định trữ lượng là 778 triệu tấn, trong đó quặng loại I là 31 triệu tấn, quặng loại II là 234 triệu tấn, quặng loại III là 222 triệu tấn và quặng loại IV là 291 triệu tấn. Trữ lượng đã thăm dò và dự báo khoảng 2,45 tỷ tấn [6].
Quặng apatit Lào Cai là loại quặng thuộc thành hệ metan photphorit (apatit-dolomit), là thành hệ chủ yếu được sử dụng cho ngành công nghiệp sản xuất phân bón chứa lân ở nước ta. Quặng apatit Lào Cai được khai thác chủ yếu để chế tạo phân bón cho nông nghiệp. Quặng apatit Lào Cai giàu hàm lượng P2O5 được nhà máy Supe Phốt phát và hóa chất Lâm Thao sử dụng để sản xuất phân bón. Loại có hàm lượng P 2O5 nghèo hơn được sử dụng để làm phân lân nung chảy và loại quặng nghèo có hàm lượng P 2O5 dưới 18% được sử dụng để tuyển nổi làm giàu tại Nhà máy Tuyển quặng apatit ở Lào Cai.
Sau khi tuyển nổi, hàm lượng quặng tinh P2O5 đạt trên 32% cũng được 7 sử dụng để sản xuất phân bón. Một lượng nhỏ quặng apatit tại Lào Cai cũng được sử dụng trực tiếp để sản xuất photpho vàng. Quặng apatit Lào Cai được phát hiện từ năm 1924. Đến năm 1940 vùng mỏ apatit Lào Cai đã được khai thác.
Sau khi hoà bình lập lại, năm 1955, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, chúng ta đã tiến hành thăm dò kỹ hơn toàn khu mỏ này. Theo các kết quả nghiên cứu, quặng apatit ở Lào Cai có đặc trưng pha tạp, gồm các pha chính là apatit, đôlomit, thạch anh và muscovit, v. tùy theo mức độ phong hoá khác nhau. Các nhà địa chất đã hoàn thành các nghiên cứu về khảo sát chi tiết địa tầng chứa apatit, nghiên cứu cấu trúc kiến tạo của khu mỏ, nghiên cứu và xác định trữ lượng từng loại quặng.
Dựa vào sự hình thành và thành phần vật chất bên trong, khoáng sản quặng apatit Lào Cai được phân ra thành 04 loại, trong đó quặng loại I và loại III là quặng phong hoá thứ sinh, được làm giàu tự nhiên nên quặng mềm và xốp hơn quặng nguyên sinh. Quặng loại II và IV là quặng apatit cacbonat nguyên sinh, nằm dưới đới phong hoá, cần qua xử lý tuyển và làm giàu. Về thành phần, quặng loại I là loại quặng apatit đơn khoáng thuộc phần không phong hoá của tầng quặng KS5 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng 28 – 40%. Quặng loại II là quặng apatit – dolomit thuộc phần chưa phong hóa của tầng quặng KS5 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng 18-25%.
Quặng loại III là quặng apatit – thạch anh thuộc phần phong hóa của tầng dưới quặng KS4 và trên quặng KS6 và KS7, hàm lượng P2O5 chiếm khoảng từ 12-20%, trung bình khoảng 15%. Quặng loại IV là quặng apatit-thạch anh-dolomit thuộc phần chưa phong hóa của tầng dưới quặng KS4 và các tầng trên quặng KS6 và KS7 hàm lượng P 2O5 khoảng 8-10% [7]. Xử lý quặng sau khi khai thác Quá trình tuyển quặng khai thác được xử lý qua 3 công đoạn sau: công đoạn chuẩn bị, công đoạn làm giàu và công đoạn hoàn thiện sản phẩm. * Công đoạn chuẩn bị quặng Bao gồm các khâu đập, nghiền để giải phóng các khoáng vật có ích ra khỏi đất đá và phân cấp để chuẩn bị cỡ hạt thích hợp cho công đoạn tuyển sau 8 đó.
Mức độ đập, nghiền tùy thuộc vào độ xâm nhiễm của các khoáng có ích vào sản phẩm quặng tinh và loại bỏ đất đá tạp vào sản phẩm bã thải. Quá trình làm giàu chỉ kết thúc khi thu được quặng tinh đạt chất lượng thương phẩm. Phương pháp làm giàu được lựa chọn dựa trên cơ sở sự khác biệt trước hết về tính chất vật lý và cả tính chất hóa học giữa các thành phần có ích và đất đá trong quặng. Tùy thuộc vào tính chất được sử dụng, người ta phân ra các phương pháp tuyển sau đây: + Tuyển trọng lực là quá trình dựa trên sự khác nhau về khối lượng riêng giữa thành phần có ích và đất đá tạp được thể hiện qua tốc độ rơi của các hạt quặng trong môi trường tuyển nhất định.
+ Tuyển nổi là quá trình dựa vào sự khác nhau về tính chất hóa - lý bề mặt của các hạt khoáng. + Tuyển từ là quá trình dựa trên sự khác nhau về tính từ để phân chia quặng đầu thành các sản phẩm có tính từ và sản phẩm không có tính từ. Phương pháp này dùng để tuyển các loại quặng họ sắt. + Tuyển điện là quá trình dựa trên sự khác nhau về tính dẫn điện giữa các thành phần có ích và đất đá để tách chúng ra khỏi nhau.
Phương pháp này chỉ áp dụng với các quặng có tính dẫn điện. Các phương pháp tuyển đặc biệt khác dựa vào sự khác nhau về màu sắc, dạng hạt, hệ số ma sát,… Chọn tay cũng thuộc phương pháp này và áp dụng với quặng cục có độ xâm nhiễm thô hoặc tuyển than có kích thước lớn hơn 80mm. Tuy nhiên, chọn tay chỉ được coi là một khâu hỗ trợ trong sản xuất thực tế. * Công đoạn hoàn thiện sản phẩm.
Là công đoạn cuối cùng của quá trình làm giàu quặng, bao gồm các bước: khử nước bằng cách cô đặc, lọc, sấy; thu gom bã thải vào địa điểm quy định; thu bụi; lấy mẫu; kiểm tra kỹ thuật. Ứng dụng của quặng apatit Quặng apatit được sử dụng với các mục đích khác nhau, trong đó khoảng 90% sản lượng quặng photphat thế giới được dùng để sản xuất các loại phân bón chứa photpho. Các hợp chất photphat là nguồn cung cấp dinh dưỡng và năng lượng cho cây trồng, đối với sự sinh trưởng của cây trồng, photpho đóng vai trò quan trọng thứ 2, chỉ sau nito. Các sản phẩm từ phân lân gồm có: Super Phosphate đơn (SSP) có hàm lượng 15,5 ÷ 16% P 2O5; Super Phosphate kép (TSP) với hàm lượng 46% P 2O5; phân lân nung chảy: FMP (Magnesium Phosphate nung chảy) hàm lượng 15 ÷ 15,5% P 2O5.
Ngoài ra, việc mở rộng diện tích phát triển các cây công nghiệp trên các vùng trung du, miền núi đòi hỏi nhiều phân bón giàu chất dinh dưỡng. Chính vì vậy nhu cầu về phân bón chứa lân ngày càng cao, do đó tốc độ khai thác quặng apatit cũng sẽ tăng. Các loại phân phức hợp nhiều thành phần dinh dưỡng gồm có: MAP (Mono-Ammonium Phosphate); DAP (Diammonium phosphate); NPK,NP (phân bón khoáng trộn) và APP (Ammonium polyphosphate). Quặng apatit là nguồn cung cấp photphat cần thiết để sản xuất phụ gia thức ăn cho gia súc.
Quy trình sản xuất các phụ gia photphat cho thức ăn gia súc có nhiều điểm tương tự quy trình sản xuất phân hóa học. Mục đích của cả 2 quy trình đều là chuyển photpho ở dạng không hấp thụ được cho cây trồng (hoặc gia súc) thành dạng hấp thụ được. Nhưng khi sản xuất phụ gia thức ăn gia súc thì việc chuyển photpho sang dạng hấp thụ được có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều, ngoài ra những nguyên tố có hại cho sức khỏe gia súc (như flo) phải được giảm xuống dưới mức cho phép.