Luận án nghiên cứu vật liệu nano silica biến tính trong quá trình thu hồi dầu

Luận án nghiên cứu tổng hợp và biến tính nano silica, ứng dụng hiệu quả trong quá trình thu hồi dầu, góp phần nâng cao hiệu suất khai thác.

Trường đại học

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ SILICA

1.1. Đặc điểm cấu tạo và tính chất của silica

1.2. Tính chất của nanosilica và silica aerogel

2. CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP NANOSILICA

2.1. Phương pháp kết tủa

2.2. Phương pháp sol – gel

2.3. Phương pháp nhiệt độ cao

2.4. Phương pháp hóa ướt

2.5. Phương pháp vi nhũ tương ngược

3. CÁC PHƯƠNG PHÁP HỮU CƠ HÓA BỀ MẶT NANOSILICA

3.1. Tính chất ưa nước của vật liệu

3.2. Tính chất kỵ nước của vật liệu

3.3. Biến tính vật lý

3.4. Biến tính hóa học

4. ỨNG DỤNG CỦA NANOSILICA VÀ SILICA AEROGEL

5. NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU NANOSILICA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

5.1. Tình hình nghiên cứu tổng hợp vật liệu nanosilica trên thế giới

5.2. Tình hình nghiên cứu vật liệu nanosilica tại Việt Nam

6. NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HẤP PHỤ VÀ THU HỒI DẦU

6.1. Lý thuyết chung về quá trình hấp phụ

6.2. Nghiên cứu xử lý nước thải nhiễm dầu tại khu vực khai thác dầu khí

6.3. Ứng dụng của các vật liệu nanosilica trong quá trình thu hồi dầu

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ

2.2. Dụng cụ thí nghiệm

2.3. CHẾ TẠO NANOSILICA TỪ NGUỒN THỦY TINH LỎNG (TTL)

2.4. CHẾ TẠO NANOSILICA TỪ NGUỒN TETRAETYL ORTHOSILICAT (TEOS)

2.5. BIẾN TÍNH NANOSILICA ĐIỀU CHẾ TỪ NGUỒN TEOS

2.5.1. Biến tính nanosilica sử dụng VTES

2.5.2. Biến tính nanosilica sử dụng PDMS

2.6. CHẾ TẠO VÀ BIẾN TÍNH NANOSILICA AEROGEL

2.6.1. Chế tạo nanosilica aerogel

2.6.2. Biến tính aerogel bằng PDMS

2.7. THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG HẤP PHỤ DẦU CỦA CÁC VẬT LIỆU NANOSILICA

2.7.1. Thử nghiệm khả năng hấp phụ với các chất kỵ nước và ưa nước khác nhau

2.7.2. Thử nghiệm khả năng hấp phụ với dầu thô

2.7.3. Đánh giá khả năng tái sử dụng của các vật liệu nanosilica

2.8. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA LÝ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

2.8.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

2.8.2. Phương pháp phổ hồng ngoại (FT-IR)

2.8.3. Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)

2.8.4. Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM)

2.8.5. Phương pháp phân tích nhiệt (TG-DTA)

2.8.6. Phương pháp hấp phụ-giải hấp phụ đẳng nhiệt (BET-BJH)

2.8.7. Phương pháp tán xạ laze (LS)

2.8.8. Phương pháp phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX)

2.8.9. Phương pháp phổ tử ngoại – khả kiến (UV-VIS)

2.8.10. Các phương pháp tiêu chuẩn

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. BIỆN LUẬN VỀ MỤC TIÊU CỦA LUẬN ÁN

3.2. NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU NANOSILICA TỪ NGUỒN THỦY TINH LỎNG (TTL)

3.2.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ nồng độ tiền chất và dung môi tới kích thước hạt nanosilica-TTL

3.2.2. Ảnh hưởng của pH đến kích thước hạt nanosilica-TTL

3.2.3. Ảnh hưởng của thời gian siêu âm đến kích thước hạt nanosilica-TTL

3.2.4. Ảnh hưởng của năng lượng siêu âm đến kích thước hạt nanosilica-TTL

3.2.5. Ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn đến kích thước hạt nanosilica-TTL

3.2.6. Một số đặc trưng khác của vật liệu nanosilica-TTL điều chế ở điều kiện thích hợp nhất

3.2.7. Kết quả đánh giá sơ bộ khả năng hấp phụ dầu thô Bạch Hổ trong môi trường tương tự nước biển của vật liệu nanosilica-TTL

3.3. NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO NANOSILICA TỪ NGUỒN TEOS

3.3.1. Ảnh hưởng của hàm lượng TEOS đến kích thước hạt nanosilica-TEOS

3.3.2. Ảnh hưởng của hàm lượng NH3 đến kích thước hạt nanosilica-TEOS

3.3.3. Ảnh hưởng của hàm lượng chất tạo cấu trúc CTAB đến kích thước hạt nanosilica- TEOS

3.3.4. Ảnh hưởng của thời gian siêu âm đến kích thước hạt nanosilica-TEOS

3.3.5. Ảnh hưởng của năng lượng siêu âm đến kích thước hạt nanosilica-TEOS

3.3.6. Ảnh hưởng của tốc độ khuấy đến kích thước hạt nanosilica-TEOS

3.3.7. Các đặc trưng khác của mẫu nanosilica-TEOS tổng hợp ở các điều kiện thích hợp

3.3.8. Thử nghiệm khả năng hấp phụ dầu của vật liệu nanosilica -TEOS

3.4. NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH VẬT LIỆU NANOSILICA TỪ NGUỒN TEOS, ỨNG DỤNG CHO QUÁ TRÌNH HẤP PHỤ DẦU

3.4.1. Biến tính vật liệu nanosilica sử dụng vinyltrietoxysilan (VTES)

3.4.2. Biến tính vật liệu nanosilica sử dụng polydimetylsiloxan (PDMS)

3.4.3. Khảo sát quá trình hấp phụ dầu trên hai loại nanosilica biến tính với VTES (nanosilica- TEOS-VTES) và nanosilica biến tính với polydimetylsiloxan (nanosilica-TEOS-PDMS)

3.5. TỔNG HỢP, BIẾN TÍNH VÀ NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HẤP PHỤ DẦU CỦA VẬT LIỆU NANOSILICA AEROGEL

3.5.1. Tổng hợp vật liệu nanosilica aerogel

3.5.2. Biến tính vật liệu nanosilica aerogel

3.5.3. Khảo sát quá trình hấp phụ dầu trong môi trường tương tự nước biển của hai loại vật liệu nanosilica-aerogel và nanosilica-aerogel-PDMS

CÁC ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu nano silica

Vật liệu nano silica là một trong những loại vật liệu có cấu trúc mạng lưới ba chiều, chứa các nhóm silanol (Si – OH) và siloxan (Si-O-Si). Những đặc điểm này giúp nano silica có khả năng hấp phụ cao và tương thích với nhiều loại vật liệu khác nhau. Nghiên cứu cho thấy rằng nano silica có thể thay đổi tính dính ướt của bề mặt, từ đó tạo ra các loại hạt kỵ nước ưa dầu (HLPN) và hạt ưa nước kỵ dầu (LHPN). Việc biến tính nano silica với các phân tử hữu cơ có thể làm tăng khả năng hấp phụ dầu, đặc biệt trong môi trường nước thải nhiễm dầu. Theo nghiên cứu của Ju và cộng sự, các hạt nano silica có thể làm tăng cường tác động ưa hữu cơ trong thu hồi dầu, nhờ vào khả năng hấp phụ trên các giao diện dầu – nước.

1.1. Tính chất của vật liệu nano silica

Vật liệu nano silica có nhiều tính chất nổi bật như độ xốp cao, diện tích bề mặt lớn và khả năng tương tác hóa học tốt. Các nhóm silanol trên bề mặt nano silica có thể tham gia vào các phản ứng hóa học, tạo ra các nhóm chức có khả năng liên kết với các phân tử hữu cơ. Điều này giúp nano silica có thể được biến tính để tăng cường khả năng hấp phụ dầu. Nghiên cứu cho thấy rằng việc biến tính nano silica có thể làm giảm sự kết tụ của các hạt trong dung dịch, từ đó cải thiện hiệu quả thu hồi dầu. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nano silica có thể hấp phụ một lượng lớn dầu trong môi trường nước, nhờ vào khả năng tương tác mạnh mẽ với các phân tử dầu.

II. Phương pháp tổng hợp và biến tính nano silica

Có nhiều phương pháp để tổng hợp nano silica, bao gồm phương pháp sol-gel, phương pháp kết tủa và phương pháp vi nhũ tương. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến kích thước và tính chất của nano silica thu được. Việc biến tính nano silica cũng rất quan trọng, vì nó quyết định đến khả năng hấp phụ dầu của vật liệu. Các tác nhân biến tính như VTES và PDMS đã được sử dụng để cải thiện tính chất bề mặt của nano silica. Nghiên cứu cho thấy rằng việc biến tính với VTES giúp tăng cường khả năng hấp phụ dầu, trong khi PDMS lại tạo ra các hạt có tính kỵ nước tốt hơn.

2.1. Các phương pháp tổng hợp nano silica

Phương pháp sol-gel là một trong những phương pháp phổ biến nhất để tổng hợp nano silica. Phương pháp này cho phép kiểm soát kích thước và hình dạng của hạt nano silica thông qua các điều kiện phản ứng như pH, nồng độ tiền chất và thời gian phản ứng. Ngoài ra, phương pháp kết tủa cũng được sử dụng để tạo ra nano silica với kích thước hạt đồng đều. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều chỉnh các thông số trong quá trình tổng hợp có thể ảnh hưởng lớn đến tính chất của nano silica, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ dầu của vật liệu.

III. Ứng dụng của nano silica trong thu hồi dầu

Vật liệu nano silica đã được chứng minh là có khả năng hấp phụ dầu hiệu quả trong các ứng dụng thu hồi dầu. Nghiên cứu cho thấy rằng nano silica có thể hấp phụ một lượng lớn dầu trong môi trường nước, nhờ vào khả năng tương tác mạnh mẽ với các phân tử dầu. Việc sử dụng nano silica trong thu hồi dầu không chỉ giúp cải thiện hiệu quả thu hồi mà còn giảm thiểu tác động môi trường từ nước thải nhiễm dầu. Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng nano silica biến tính có thể tái sử dụng nhiều lần mà không làm giảm hiệu quả hấp phụ, điều này rất quan trọng trong việc phát triển các công nghệ thu hồi dầu bền vững.

3.1. Hiệu quả thu hồi dầu của nano silica

Các thử nghiệm cho thấy rằng nano silica có khả năng hấp phụ dầu thô trong môi trường nước biển, với hiệu suất thu hồi cao. Việc biến tính nano silica với các tác nhân hữu cơ như VTES và PDMS đã làm tăng đáng kể khả năng hấp phụ dầu. Kết quả cho thấy rằng nano silica không chỉ hấp phụ dầu hiệu quả mà còn có khả năng tái sử dụng, giúp giảm chi phí và tăng tính bền vững trong quá trình thu hồi dầu. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng nano silica trong ngành công nghiệp dầu khí, đặc biệt trong việc xử lý nước thải nhiễm dầu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Nanosilica là vật liệu có cấu trúc mạng lưới không gian ba chiều và chứa các nhóm silanol (Si – OH), siloxan (Si-O-Si), được tạo ra trên bề mặt của nanosilica. Hạt nanosilica chứa tâm là các hạt SiO2 xốp có kích thước nano, chứa được một số lượng lớn phân tử hữu cơ trong một hạt silica đơn. Nền silica ổn định về cấu trúc, không độc, có khả năng tương thích đa dạng các loại vật liệu. Hơn nữa, các hạt silica có các nhóm –OH trên bề mặt có thể tham gia phản ứng hóa học để tạo các nhóm chức có khả năng liên kết với các nhóm amin (-NH3), carboxyl (-COOH) hoặc thiol (-SH).

Khi nghiên cứu sự hấp phụ của các hạt nano trong môi trường xốp, Ju cùng cộng sự [72] đã công bố là các hạt nanosilica có thể làm thay đổi tính dính ướt của bề mặt xốp với các hạt nano có kích thước cỡ từ 10 -50 nm. Tính dính ướt bề mặt có thể phân các hạt nano thành ba loại: hạt kỵ dầu ưa nước (LHPN), hạt có độ dính ướt trung tính (NWPN) và hạt kỵ nước ưa dầu (HLPN); trong đó các hạt LHPN và HLPN có nhiều ứng dụng quan trọng trong lĩnh vực thu hồi dầu. Các nghiên cứu cho thấy hạt nano biến tính có khả năng phân tán ổn định trong dầu khoáng và tăng cường tác động ưa hữu cơ trong thu hồi dầu. Với khả năng hấp phụ của hạt nano trên các giao diện dầu – nước hoặc không khí – nước thì nhiệt độ có vai trò tác động đến bề mặt tiếp xúc của hai pha tới quá trình phân tán ổn định của hạt nanosilica.

Nhiệt độ tăng sẽ làm tăng năng lượng động học, dẫn đến tăng khả năng kết tụ hạt nanosilica trong dung dịch. Do đó, quá trình biến tính hạt nanosilica với các phân tử hữu cơ rất quan trọng để giảm kết tụ và làm thay đổi tính dính ướt của giao diện bề mặt tiếp xúc giữa hai pha dầu và nước theo hướng ưa dầu hoặc ưa nước. Xu hướng ưa dầu hoặc ưa nước của các hạt nanosilica có thể xác định qua góc tiếp xúc dính ướt với giao diện lỏng – lỏng. Thực tế, khi giữa hai loại vật liệu có tính hoạt động bề mặt thì các hạt nano được hấp phụ mạnh hơn nhiều tại bề mặt giao diện.

Ngoài ra, các nhóm silanol trên bề mặt hạt silica liền kề nhau chúng tập hợp lại bằng liên kết hydro và có xu thế tạo thành hạt có diện tích bề mặt riêng lớn. Việc các hạt nanosilica có khả năng được biến tính sẽ tạo ra nhiều khả năng ứng dụng trong thực tế [2,79]. Hiện nay, trong quá trình khai thác dầu khí thường có một lượng nước thải nhiễm dầu hay còn gọi là nước khai thác [147]. Nước thải nhiễm dầu chiếm tỷ lệ lớn nhất trong khối lượng chất thải phát sinh từ ngành công nghiệp dầu khí.

Khi khai thác một thùng dầu, trung bình phải xử lý từ 3 – 7 thùng nước thải nhiễm dầu với mục đích vừa để thu hồi dầu vừa để đạt giới hạn thải cho phép. Hàng năm, ngành công nghiệp dầu khí thế giới đã thải ra 1 khoảng 50 tỷ thùng nước thải nhiễm dầu để xử lý. Trên thế giới, lượng nước thải này thường được sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, phổ biến nhất là dùng các chất hoạt động bề mặt hoặc các chất hấp phụ để tăng hiệu quả thu hồi [28,48,53]. Tuy nhiên, nhiều chất hoạt động bề mặt có độc tính cao, giá thành đắt, hệ số thu hồi dầu không cao, không có khả năng tái sử dụng nên rất khó khăn trong vấn đề dung hòa giữa hiệu quả xử lý và thu hồi dầu do tính kinh tế trong công nghệ [80].

Bản chất vật liệu nanosilica ở dạng tự nhiên cũng hấp phụ được một phần dầu, nhưng đa số chúng vẫn bị hấp dẫn bởi phân tử nước do có nhóm silanol và siloxan; do vậy nếu biến tính được chúng thì sẽ phải gắn vào cấu trúc bề vật liệu những tác nhân kỵ nước mà lại có khả năng ưa hữu cơ. Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về chế tạo vật liệu nanosilica và các tính chất của chúng; nhưng nghiên cứu sử dụng vật liệu nanosilica cho quá trình về thu hồi dầu thì vẫn còn khá mới mẻ. Chính vì vậy nên tác giả quyết định chọn vật liệu này làm đối tượng nghiên cứu trong đề tài của mình: “Nghiên cứu tổng hợp và biến tính vật liệu nanosilica ứng dụng cho quá trình thu hồi dầu”. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: Luận án là một công trình nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là loại vật liệu nanosilica được biến tính bằng các tác nhân hữu cơ khác nhau. Các kết quả của luận án hứa hẹn bổ sung nhiều thông tin mới trong lĩnh vực nghiên cứu vật liệu nanosilica và aerogel dùng hấp phụ dầu. Các phương pháp nghiên cứu và các kết quả trong luận án đưa ra là một trong những tiền đề cho ứng dụng công nghệ nano vào lĩnh vực thu hồi dầu và xử lý nước thải nhiễm dầu [25,51]. Những đóng góp mới của luận án 1.

Chế tạo được vật liệu aerogel (gel khí) bằng phương pháp sol – gel, sản phẩm có độ xốp lớn, tỷ trọng nhẹ, kích thước hạt nhỏ. Sử dụng phương pháp năng lượng siêu âm để điều khiển kích thước hạt và đạt được 6 -10 nm. Nghiên cứu ứng dụng vật liệu nanosilica biến tính cho quá trình hấp phụ thu hồi dầu mà tại Việt Nam hầu như chưa có công trình nào đã công bố. TỔNG QUAN CHUNG VỀ SILICA 1.

Đặc điểm cấu tạo và tính chất của silica Silica (hay silica dioxit - SiO2) là khoáng chất dồi dào nhất trong lớp vỏ trái đất, tồn tại dưới dạng đơn chất hoặc kết hợp với các oxit khác ở dạng muối silicat. Silica được tìm thấy phổ biến trong tự nhiên ở dạng cát hay thạch anh [90,96]. Silica có hai dạng cấu trúc là dạng vô định hình và dạng tinh thể. Trong tự nhiên silic dioxit tồn tại chủ yếu ở dạng tinh thể hoặc vi tinh thể.

Các dạng tinh thể của silic dioxit ở áp suất thường là thạch anh, triđimit và cristobalit. Mỗi dạng thù hình này lại có hai dạng cấu trúc thứ cấp α và β. Dạng α bền nhiệt ở nhiệt độ thấp và dạng β bền ở nhiệt độ cao. Tất cả những dạng tinh thể đều bao gồm những nhóm tứ diện SiO4, nối với nhau qua những nguyên tử O chung.

Trong tứ diện SiO4, nguyên tử Si nằm ở tâm của tứ diện, liên kết cộng hóa trị với bốn nguyên tử O nằm ở các đỉnh của tứ diện. Như vậy mỗi nguyên tử O liên kết với hai nguyên tử ở hai tứ diện khác nhau và tính trung bình cứ trên một nguyên tử Si có hai nguyên tử O; cấu trúc tinh thể của SiO2 được thể hiện qua hình 1. a) Thạch anh b) Triđimit c) Cristobalit Hình 1.1 Cấu trúc tinh thể của silica Tỷ khối của thạch anh là 2,56, triđimit là 2,3 và của cristobalit là 2,3. Sự khác nhau giữa dạng α và dạng β của mỗi dạng thù hình là do sự dịch chuyển xung quanh của các tứ diện đối diện với nhau, nhưng cách sắp xếp chung của chúng không có sự biến đổi.

Do quá trình dịch chuyển của silic dioxit xảy ra chậm và cần năng lượng hoạt hóa cao, cho nên thạch anh, triđimit và cristobalit đều tồn tại ở trong thiên nhiên mặc dù ở nhiệt độ thường chỉ có thạch anh dạng α là bền nhất, còn các dạng tinh thể khác chỉ là giả bền [6,138]. 3 Gần đây, người ta chế tạo được hai dạng tinh thể mới của silic dioxit nặng hơn thạch anh là coesit (thực hiện điều kiện áp suất 35.000 atm và nhiệt độ 2500C) và stishovit (được tạo nên ở áp suất 120.000 atm và nhiệt độ 13000C). Đây là hai dạng mới phát hiện ở các thiên thạch. Khi nung nóng coesit ở 12000C và stishovit ở 4000C, chúng biến thành silic dioxit ở dạng thường.

Silica sau khi tổng hợp không có dạng tinh thể và thường tạo ra ở dạng vô định hình. Hai nhà khoa học đầu tiên công bố phát minh về tổng hợp silica bằng phương pháp hồ quang điện là H. sPotter (Đức) vào năm 1907 và W. Patrick đã công bố các phát minh tổng hợp silica gel từ thủy tinh lỏng và axit trong những năm 1914 – 1919.

Năm 1941, pyroogenic silica được tổng hợp thành công với một lượng sản phẩm nhỏ đầu tiên bằng phương pháp thủy phân trong ngọn lửa. Loại silica này có những tính chất rất đặc biệt: màu trắng, nhẹ, xốp. Sản phẩm silica hạt mịn, tổng hợp bằng phương pháp kết tủa được sản xuất và có mặt trên thị trường vào năm 1942; nó có tính chất gần như pyrogenic silica nhưng công nghệ sản xuất đơn giản hơn [89]. Trong nghiên cứu, silica vô định hình bao gồm các dạng: silica sol, silica gel, bột silica, silica kết tủa, thủy tinh khan.

Silica sol là dạng huyền phù của những hạt silica vô định hình tách rời nhau có đường kính từ 1 – 100 nm. Silica sol bền và không tạo thành gel hoặc bị chuyển dạng trong dung dịch trong thời gian dài. Độ bền của silica sol phụ thuộc nhiều vào các yếu tố nồng độ, pH, nhiệt độ và có thể là của chất hoạt động bề mặt. Để tạo ra silica ở dạng sol bền với hàm lượng silica tương đối cao, các hạt phải được phát triển tới kích thước ổn định, phân tán trong môi trường [114].

Những nhóm OH nằm giữa các mạch silica sol có thể tương tác với nhau để tạo nên những phân tử 3 chiều lớn hơn, chứa ít nước hơn và có mạch nhánh. Khi kích thước của các hạt keo vượt qua một giới hạn nào đó thì dung dịch keo silica sol sẽ đông tụ lại. Tùy theo điều kiện xảy ra của quá trình đông tụ, silica sol lắng xuống dưới dạng kết tủa thô, không tan, có công thức chung là SiO2.n H2O, hoặc đông tụ thành khối nhìn giống như thạch được 4 gọi là silicagel. Quá trình ngưng tụ trên tiếp tục xảy ra cho đến khi tạo được sản phẩm cuối cùng là SiO2 vô định hình.

Silica dạng hydrogel là gel mà trong mao quản chứa đầy nước. Silica dạng xerogel là gel mà đã được loại bỏ các phần tử nước, gây ra sự gãy cấu trúc, giảm độ xốp của sản phẩm. Nếu quá trình loại bỏ nước mà không gây ra sự co ngót và làm vỡ cấu trúc gel thì sẽ tạo ra silica dạng aerogel [90,123]; còn thủy tinh khan tương tự như silicagel. Silica bột có thể tạo ra từ xerogel bằng cách nghiền các hạt gel nhưng không làm thay đổi cấu trúc cơ bản của gel [55].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án nghiên cứu vật liệu nano silica biến tính trong quá trình thu hồi dầu" của tác giả Hoàng Thị Phương, dưới sự hướng dẫn của các giáo sư, tiến sĩ tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, tập trung vào việc phát triển và ứng dụng vật liệu nano silica biến tính nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi dầu. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về công nghệ vật liệu nano mà còn mở ra hướng đi mới trong việc tối ưu hóa quy trình thu hồi dầu, giúp giảm thiểu chi phí và tác động môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về các phương pháp và ứng dụng của vật liệu nano trong ngành công nghiệp dầu khí.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến vật liệu nano và ứng dụng của chúng trong các lĩnh vực khác, hãy tham khảo thêm các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman, nơi nghiên cứu về cấu trúc nano trong nhận diện phân tử hữu cơ, và Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính, cung cấp cái nhìn về ứng dụng của vật liệu carbon trong công nghệ. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc nghiên cứu và phát triển vật liệu mới, tương tự như luận án của Hoàng Thị Phương.