Mở đầu Việc tìm ra Zeolit vào những năm 60 của thế kỷ XX đã tạo nên bước ngặt lớn trong công nghiệp hoá học, đặc biệt trong ngành công nghiệp dầu khí. Song với kích thước mao quản < 10 Å nên zeolit không được sử dụng trong phản ứng của các phân tử có kích thước động học lớn. Tuy nhiên khi cần chuyển hoá các phân đoạn dầu nặng của dầu mỏ thì cần phải có những xúc tác có lỗ xốp lớn hơn để tiếp nhận những phân tử này. Vì vậy việc tìm kiếm các phương pháp tổng hợp vật liệu có kích thước mao quản lớn hơn đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học.
Vào thập kỷ 90, các thành công trong việc tổ hợp các vật liệu mao quản trung bình (MQTB) đã mở ra một triển vọng to lớn trong tổng hợp chất xúc tác và hấp phụ. Các vật liệu này có bề mặt riêng lớn, kích thước mao quản lớn (2 - 50 nm), cấu trúc mao quản với độ trật tự cao, đồng đều. Chúng cho phép các phân tử lớn có thể dễ dàng khuếch tán và tham gia phản ứng bên trong mao quản. Vật liệu MQTB là một trong những vật liệu quan trọng trong hoá học hấp phụ và xúc tác vì nó có tính chất hấp phụ chọn lọc cao.
Một trong những đòi hỏi quan trọng nhất trong việc tổng hợp các vật liệu MQTB là việc sử dụng các chất tạo cấu trúc để tạo ra những lỗ xốp có cấu trúc và kích thước mong muốn. Những nghiên cứu gần đây nhất tập trung vào việc tìm ra những chất tạo cấu trúc mới hoặc sử dụng hỗn hợp một số chất tạo cấu trúc, thường là các polyme để tạo ra những lỗ xốp không gian dạng hexagonal (sáu mặt) và cubic (lập phương) hoặc những lỗ xốp không gian có trật tự và lặp lại. Trong các nhà máy lọc hoá dầu, nguyên liệu đầu vào là dầu thô chứa rất nhiều thành phần nên cần phải phân tách hay chuyển đổi chúng theo các quá trình hoá học để phục vụ cho các mục đích khác nhau. Việc sử dụng vật liệu NguyÔn §×nh §Þnh - Líp Cao Häc Vòng Tµu Trang 2 mao quản trung bình trong hấp phụ để tách các cấu tử cần thiết như n-parafin, các hợp chất vòng thơm nhằm: làm tăng trị số octan của xăng, tăng phẩm chất của nhiên liệu, hay làm nguyên liệu đầu vào cho một số các quá trình tổng hợp hoá học khác.
Làm chất mang, làm xúc tác cho các quá trình như: isome hoá, đồng phân hoá, refoming, cracking,. Trong luận văn này, tôi nghiên cứu vật liệu nhôm mao quản trung bình eta-oxit nhôm. Nguồn vật liệu chính là nguồn nhôm phế thải, và sử dụng chất hoạt động bề mặt là các axit hữu cơ tactaric và chất phụ gia là Amoni nitrat, than hoạt tính. NguyÔn §×nh §Þnh - Líp Cao Häc Vòng Tµu Trang 3 PHầN I : TổNG QUAN I.
VậT LIệU MAO QUảN TRUNG BìNH I. Giới thiệu chung về vật liệu MQTB Theo qui định của hiệp hội IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry) thì vật liệu mao quản có thể chia làm 3 loại [15]: + Vật liệu vi mao quản: đường kính lỗ xốp d < 2nm. Ví dụ: zeolit và các vật liệu có cấu trúc tương tự zeolit như aluminosilicat, aluminophotphat. + Vật liệu mao quản trung bình: đường kính lỗ xốp 2nm < d < 50nm.
Ví dụ: M41S, MSU, SBA, các oxit kim loại của nhôm, silic có mao quản trung bình. + Vật liệu mao quản lớn: đường kính lỗ xốp d > 50nm. Ví dụ: các gel mao quản, thuỷ tinh mao quản. Tìm ra phương pháp tổng hợp họ vật liệu MQTB đầu thập kỷ 90 đã mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực nghiên cứu xúc tác.
Họ vật liệu này được ký hiệu là M41S có cấu trúc mao quản với độ trật tự rất cao và kích thư- ớc mao quản rất đồng đều. Kích thước mao quản có thể dao động trong khoảng rộng từ 20 - 100 Å, tuỳ thuộc vào điều kiện tổng hợp như: bản chất chất hoạt động bề mặt, bản chất tiền chất vô cơ, nhiệt độ phản ứng. Họ vật liệu này gồm nhiều dạng: MCM-41 (cấu trúc lục lăng), MCM-48 (cấu trúc lập phương), MCM-50 (cấu trúc lớp mỏng). Những năm gần đây, các nhà khoa học đã tổng hợp được họ vật liệu MQTB mới ký hiệu SBA.
Vật liệu này có độ trật tự cao, kích thước mao quản có thể lên tới 500 Å. Đến nay họ SBA có 16 loại từ SBA-1 đến SBA-16. Phân loại vật liệu MQTB NguyÔn §×nh §Þnh - Líp Cao Häc Vòng Tµu Trang 4 Người ta có thể phân loại vật liệu MQTB theo cấu trúc của chúng theo các dạng sau [13]: - Cấu trúc lục lăng (hexagonal) : MCM-41, SBA-15. - Cấu trúc lập phương (cubic) : MCM-48, SBA-16.
- Cấu trúc lớp mỏng (laminar) : MCM-50. a - Lục lăng b - Lập phương c - Lớp mỏng Hình I.1: Các dạng cấu trúc của vật liệu MQTB Dựa vào thành phần vật liệu thì chia vật liệu MQTB thành 2 nhóm: - Vật liệu MQTB chứa silic : MCM, SBA. Trong nhóm này còn bao gồm các vật liệu MQTB có thể thay thế một phần silic mạng lưới bằng các kim loại khác như Ti, Al, Ru … - Vật liệu MQTB không chứa silic: ZrO2, TiO2 … I. Thành phần tổng hợp vật liệu MQTB [8, 12-14, 15] Để tổng hợp được vật liệu MQTB ít nhất cần 3 thành phần sau [15]: I.
Nguồn chất vô cơ: Chứa thành phần chính là Silic, nhôm. Đây là thành phần quan trọng trong việc tạo mạng lưới vật liệu mao quản trung bình. Nguồn chất vô cơ chứa Si như đất sét. Từ những nguồn chất vô cơ này người ta điều chế ra vật liệu mao quản trung bình có chứa Si hay vật liệu thay thế một phần Si trong mạng lướ i như vanadosilicat, zirconosilicat, borosilicat, titanosilicat, gallosilicat để tăng thêm tính năng ứng dụng của các vật liệu NguyÔn §×nh §Þnh - Líp Cao Häc Vòng Tµu Trang 5 này.
Chất hoạt động bề mặt: Chất hoạt động bề mặt chứa một đầu ưa nước và một đuôi mạch dài kỵ nước như : Xetyl trimetyl amoni bromua - C 12H25N(CH3)3Br, axit tactaric, axit citric. Nồng độ của chất hoạt động bề mặt trong dung dịch là tham số quan trọng cho sự hình thành mixen, hình dạng mixen và sự sắp xếp của mixen thành pha tinh thể lỏng. Chính chất hoạt động bề mặt sẽ hình thành nên cấu trúc của vật liệu. Sự tụ tập chất hoạt động bề mặt tạo mixen dạng que, dạng lớp mỏng hay cấu trúc 3D.2: ảnh hưởng của nồng độ chất HĐBM tới sự hình thành cấu trúc Tại nồng độ thấp các phân tử chất hoạt động bề mặt tồn tại ở dạng monome riêng biệt.
Khi tăng nồng độ đến một giá trị nhất định, các phân tử chất hoạt động bề mặt bắt đầu tự sắp xếp thành các mixen hình cầu. Nồng độ tại đó các mixen bắt đầu hình thành gọi là nồng độ mixen tới hạn. Khi nồng độ tiếp tục tăng sẽ tạo thành các mixen hình trụ và cuối cùng là các pha tinh thể lỏng dạng lục lăng, lập phương hoặc dạng lớp [15]. Trong một số trường hợp khác có thể hình thành pha tinh thể lỏng dạng lập phương trước khi hình thành pha tinh thể lỏng dạng lớp.
NguyÔn §×nh §Þnh - Líp Cao Häc Vòng Tµu Trang 6 Tỷ lệ giữa chất HĐBM/chất vô cơ thông thường từ 0. Dung môi: Dung môi là thành phần không thể thiếu trong tổng hợp vật liệu mao quản trung bình. Dung môi có tác dụng hoà tan chất hoạt động bề mặt, hay tạo với chất hoạt động bề mặt hỗn hợp nhũ tương để dễ dàng tạo liên kết giữa tiền chất vô cơ và mixen. Đã có rất nhiều dung môi được sử dụng dựa trên đặc tính của dung môi đó là: dung môi phân cực dễ hoà tan những hợp chất phân cực và ngược lại, dung môi không phân cực dễ hoà tan những hợp chất không phân cực.
Trong sản xuất công nghiệp cần quan tâm tới giá thành, độ phân cực, dễ kiếm, ít độc hại. để sử dụng cho hợp lý và tối ưu nhất như thế sẽ tạo ra các sản phẩm mong muốn và có giá thành vừa phải. Các loại dung môi thường được sử dụng trong quá trình tổng hợp vật liệu mao quản trung bình đó là: nước, etanol, 1,3,5-trimetylbenzen,. Cơ chế hình thành cấu trúc vật liệu MQTB Hiện nay có rất nhiều cơ chế được đưa ra để giải thích quá trình hình thành các vật liệu MQTB.
Các cơ chế đều khẳng định một đặc điểm chung là sự tương tác của các chất hoạt động bề mặt (HĐBM) với các tiền chất vô cơ trong dung dịch. Chất hoạt động bề mặt + Tiền chất vô cơ = Vật liệu MQTB NguyÔn §×nh §Þnh - Líp Cao Häc Vòng Tµu Trang 7 Hình I.3 : Cơ chế tổng hợp vật liệu MQTB Do có nhiều loại tương tác khác nhau giữa các tiền chất vô cơ với các chất HĐBM dẫn đến các cơ chế tổng hợp khác nhau, phương pháp tổng hợp khác nhau và kết quả là tạo ra các hợp chất MQTB có hình dáng và kích thước mao quản khác nhau. có một số cơ chế như [15]: I. Cơ chế định hướng theo tinh thể lỏng (Liquid Crystal Templating) Cơ chế định hướng theo tinh thể lỏng được các nhà nghiên cứu của hãng Mobil đưa ra để giải thích cho sự hình thành của họ vật liệu mao quản trung bình M41S.
Cấu trúc vật liệu MQTB phụ thuộc vào độ dài của mạch cacbon cũng như nhóm chức của chất HĐBM, phụ thuộc vào nồng độ của chất HĐBM. Theo cơ chế này trong dung dịch các chất HĐBM tự sắp xếp thành pha tinh thể lỏng có dạng mixen ống, thành ống là các đầu ư a nước của các phân tử chất HĐBM và đuôi mạch hydrocacbon dài kỵ nước hướng vào phía trong. Những mixen ống này đóng vai trò chất tạo cấu trúc và sắp xếp thành cấu trúc tinh thể dạng lục lăng. NguyÔn §×nh §Þnh - Líp Cao Häc Vòng Tµu Trang 8 Hình I.4: Cơ chế định hướng theo cấu trúc tinh thể lỏng Sau khi thêm nguồn silic vào dung dịch, các phần tử chứa silic tương tác với các đầu phân cực của chất HĐBM thông qua các tương tác tĩnh điện (S+I-, S- I+, trong đó S là chất HĐBM, I là tiền chất vô cơ) hoặc tương tác hydro (S0I0 ) và hình thành nên lớp màng silicat xung quanh mixen ống.
Quá trình polymer hoá ngưng tụ silicat tạo nên tường vô định hình của vật liệu oxyt silic MQTB. Cơ chế này được thể hiện theo đường (1).