Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu lý luận về văn hóa đọc 1. Về quan niệm văn hoá đọc Hiện nay, văn hoá đọc là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến ở nhiều khía cạnh và nội dung khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có quan niệm thống nhất về văn hoá đọc, tùy từng góc độ tiếp cận mà mỗi tác giả đưa ra quan niệm khác nhau về văn hoá đọc. Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu cho thấy, nhìn chung văn hoá đọc được tiếp cận chủ yếu dưới hai góc độ: Một là tiếp cận văn hoá đọc như một lớp văn hoá của cộng đồng trong một giai đoạn nhất định; hai là tiếp cận văn hoá đọc như một dạng văn hoá hành vi của mỗi người trong xã hội. Dưới góc độ tiếp cận văn hoá đọc như một lớp văn hoá của cộng đồng, Milena Tsvetkova cho rằng: <Theo nghĩa rộng văn hoá đọc được coi như một lớp văn hoá thể hiện trình độ phát triển của văn minh nhân loại, văn hoá đọc được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của chữ viết và văn tự= [125, tr. Trên phương diện triết học, văn hóa đọc được hiểu là một không gian nhất định, như là một môi trường hoàn hảo được tạo ra bởi hiện tượng đọc trong sự hài hoà về đạo đức và trí tuệ của con người [131].
Theo quan niệm này, văn hóa đọc được coi là một hiện tượng văn hóa - xã hội, một quá trình nhận thức dựa trên hoạt động đọc, quyết định trình độ phát triển trí tuệ và tinh thần của xã hội. Nghiên cứu văn hoá đọc như một dạng hành vi của mỗi người trong xã hội là xu hướng tiếp cận khá phổ biến hiện nay. Ở góc độ này, cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Milena Tsvetkova cho rằng, việc đọc là một hoạt động nhận thức đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành văn hoá thông tin của con người: Hiểu được các ý tưởng phát minh, tiếp nhận, lưu giữ cải biến và tổ chức thông tin, sáng tạo ra tri thức mới và áp dụng chúng trong thực tiễn.
Theo nghĩa hẹp, văn hoá đọc được xem xét như văn hoá hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội, thể hiện ở khả năng giải mã và lĩnh hội 8 thông tin, tri thức trong tài liệu của mỗi cá nhân. <Ở cấp độ cá nhân, văn hoá đọc phản ánh năng lực nhận thức và khuynh hướng tinh thần giúp cho việc nhận dạng các biểu tượng chữ in bằng võng mạc tạo nên các cảm xúc tinh thần= [125, tr. Nhấn mạnh yếu tố thói quen đọc, tác giả Elisam & Charles [99, tr.19] cho rằng: <Văn hóa đọc là đặc trưng văn hóa trong một xã hội mà ở đó việc đọc rất được quý trọng và tạo thành thói quen được chia sẻ bởi các thành viên trong xã hội=. Tương tự, Evans Wema cho rằng: <Thói quen đọc của mỗi cá nhân diễn ra như một hoạt động hằng ngày giúp hình thành văn hóa đọc= [128, tr.
Khi nghiên cứu về văn hóa đọc của sinh viên Trung Quốc, H. Gao đã coi thành tố quan trọng nhất của văn hóa đọc là động cơ đọc và thói quen đọc [100]. Theo các quan điểm trên thì thói quen đọc là yếu tố quan trọng để nhận diện văn hóa đọc của một cộng đồng. Cũng có nghĩa là văn hóa đọc là hành vi đọc được thực hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của các thành viên trong cộng đồng.
Với cách hiểu này, văn hóa đọc được mô tả thông qua hành động đọc thường ngày của các thành viên trong cộng đồng, do đó chưa giải mã được ý nghĩa ẩn chứa cho các hành vi đọc của cộng đồng. Nhấn mạnh các yếu tố kỹ năng đọc, trong cuốn sách Văn hóa đọc và làm việc độc lập với một cuốn sách, E. Opekhtina cho rằng: <Văn hóa đọc là kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết để người đọc có thể lựa chọn, cảm nhận và hiểu tác phẩm in một cách chính thức= [130, tr. Trong cuốn Từ điển Giáo dục học, G.
Kodzaspirova, cho rằng, văn hoá đọc là tập hợp các kỹ năng trong quá trình làm việc với sách, bao gồm sự lựa chọn có chủ ý về các chủ đề, đọc có trình tự và hệ thống, có khả năng tìm kiếm các tài liệu cần thiết thông qua sự trợ giúp của các bản thư mục, sử dụng bộ máy tra cứu thư mục, áp dụng các phương pháp hợp lý để cảm thụ tài liệu một cách tối đa, lĩnh hội sâu sắc những gì đã đọc (ghi chú, chú thích, xem xét,…), gìn giữ, bảo quản tốt các công trình in ấn [129]. Oguana và các cộng sự [114] và M. Ogwu [115] cho rằng, văn hóa đọc được thể hiện qua các yếu tố như: nhu cầu, hứng thú đọc, khả năng lựa chọn và định vị tài liệu, khả năng giải mã văn bản; khả năng tiếp thu và vận dụng tri thức đã đọc vào cuộc sống. Các quan niệm này chỉ mô tả, nhận diện văn hóa đọc qua các kỹ năng được vận dụng trong quá trình đọc, vì vậy chưa có cái nhìn tổng thể các yếu tố liên quan đến hoạt động đọc.
9 Tiếp cận văn hoá ở góc độ năng lực, trình độ đọc của mỗi cá nhân, Trần Thị Minh Nguyệt [55], Đoàn Tiến Lộc [37], Cao Thanh Phước [60], Nguyễn Chí Trung [77] cho rằng, văn hóa đọc là tổng thể các năng lực của chủ thể hướng tới việc tiếp nhận và sử dụng thông tin trong tài liệu, thể hiện ở khả năng định hướng tới tài liệu, khả năng lĩnh hội tài liệu một cách sáng tạo và thái độ ứng xử với tài liệu của mỗi người. Văn hoá đọc được xem xét ở 3 khía cạnh: năng lực định hướng của chủ thể tới tài liệu (nhu cầu đọc, hứng thú đọc, khả năng lựa chọn và tìm kiếm tài liệu); năng lực lĩnh hội tài liệu (phương pháp đọc, kỹ năng đọc, khả năng hiểu nội dung tài liệu, khả năng vận dụng tri thức trong tài liệu vào thực tiễn); ứng xử của chủ thể với tài liệu trong quá trình đọc. Theo quan điểm này, văn hóa đọc được nhận diện qua nhiều thành tố liên quan đến hoạt động đọc, tuy nhiên cách tiếp cận này chưa thể hiện tính hệ thống trong văn hóa, chưa chỉ ra giá trị, ý nghĩa đạt được từ việc đọc. Đề cập đến yếu tố giá trị đọc (ý nghĩa của việc đọc), Kamalova & Koletvinova [106] cho rằng, điều kiện quan trọng để phát triển văn hóa đọc bao gồm các thành tố thuộc về cá nhân (nhu cầu, động cơ, giá trị và ý nghĩa) trong cấu trúc thuộc về hoạt động giáo dục.
Quan niệm này nhấn mạnh giá trị, ý nghĩa đạt được từ việc đọc đối với mỗi cá nhân nhưng chưa có cái nhìn tổng thể, đầy đủ về các yếu tố khác liên quan đến hoạt động đọc. Nhấn mạnh ba yếu tố ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc, tác giả Nguyễn Hữu Viêm cho rằng: Văn hoá đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước… Còn ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân [83, tr. Đây là quan niệm khá toàn diện về văn hoá đọc khi tiếp cận văn hoá đọc ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Tuy nhiên, ở đây, nội hàm khái niệm ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc chưa được tác giả lý giải, phân biệt một cách đầy đủ, rõ ràng. Theo tác giả, văn hóa đọc gồm ba thành phần: thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc. Ở đây, nội hàm khái niệm ứng xử đọc nằm trong nội hàm khái niệm chuẩn mực đọc, vì vậy ba thành phần thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc mới chỉ phản ánh chuẩn mực đọc, chưa có yếu tố phản ánh giá trị đọc. Kế thừa và 10 phát triển quan niệm của Nguyễn Hữu Viêm, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Linh cho rằng: <Văn hóa đọc có thể hiểu một cách khái quát là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân thông qua nhu cầu đọc, thói quen và sở thích đọc, kỹ năng đọc và văn hóa ứng xử với tài liệu của bản thân cá nhân đó= [69, tr.
Tác giả Vũ Thị Thơm cho rằng: <Văn hóa đọc là cách thức ứng xử và đánh giá đọc của mỗi cá nhân thông qua thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của bản thân= [70, tr. Theo quan niệm này văn hóa đọc được nhận diện qua 10 thành tố: mục đích đọc, nội dung đọc, thị hiếu đọc, nhu cầu đọc, trình độ đọc, tính tích cực đọc, phương pháp đọc, kỹ năng đọc, thói quen đọc và thái độ đọc. Các thành tố này phản ánh giá trị đọc, chuẩn mực đọc. Dưới góc độ văn hóa học, tác giả Nguyễn Hoàng Vĩnh Vương cho rằng: <Văn hóa đọc gồm hoạt động nhận thức về việc đọc, hành vi đọc và ý nghĩa (giá trị) của việc đọc được lan tỏa trong cộng đồng= [88, tr.
Tác giả đã vận dụng cấu trúc văn hóa của Trần Ngọc Thêm để mô tả và lý giải văn hóa đọc của sinh viên Đại học Cần Thơ qua các thành phần: văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức việc đọc. Các yếu tố này biểu đạt giá trị đọc và chuẩn mực đọc. Tác giả Đỗ Thị Quyên [62] cho rằng, văn hóa đọc chứa đựng nội hàm có ý nghĩa định tính và định lượng. Về định lượng đó là hành vi đọc, thái độ đọc, mục đích đọc, hình thức đọc, không gian đọc và kỹ năng đọc.
Về định tính, đó là giá trị xã hội và ý nghĩa lịch sử của văn hóa đọc. Các quan điểm này nhìn nhận văn hóa đọc ở mức độ sâu và rộng hơn, thể hiện tính hệ thống của văn hóa. Trong đó, bản thân văn hóa đọc có các thành tố cấu thành bao trùm hoạt động đọc từ nhận thức đến hành động đọc và ý nghĩa của việc đọc. Nhìn chung, các quan điểm văn hóa đọc của các tác giả tuy chưa thể hiện tính đồng nhất cao nhưng bổ sung cho nhau để có cái nhìn toàn diện về văn hóa đọc từ nhận thức đến hành động đọc và ý nghĩa của hoạt động đọc.