Chương 1: Lý luận cơ bản về mô hình Z-score ở các Doanh nghiệp Bất động sản Việt Nam Chương 2:Thực trạng điều kiện vận dụng mô hình Alman Z-score ở các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp và kiến nghị nghiên cứu điều kiện vận dụng mô hình Z-score ở các doanh nghiệp Bất động sản Việt Nam 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢNVỀ MÔ HÌNH ALTMAN Z-SCORE Ở CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM 1. Giới thiệu mô hình Almant Z-score và lựa chọn mô hình Z-score đánh giá thực trạng tài chính phù hợp với các Doanh nghiệp Bất động sản 1. Cơ sở ra đời của mô hình Altman Z-score – phân tích đa biến Mô hình Z-score để dự đoán phá sản đƣợc xuất bản vào năm 1968 bởi Edward I. Altman, vào thời điểm đó là một trợ lý giáo sƣ tài chính tại Đại học New York.Mô hình đƣợc sử dụng để dự đoán xác suất mà một Công ty sẽ đi vào phá sản trong vòng hai năm.Z-score đƣợc sử dụng để dự đoán giá trị của Công ty và là một biện pháp kiểm soát dễ tính toán cho trạng thái khủng hoảng tài chính của các Công ty trong nghiên cứu học thuật.Z-score sử dụng nhiều giá trị thu nhập doanh nghiệp và bảng cân đối kế toán để đo lƣờng năng lực tài chính của một Công ty.
Tuy nhiên, Altman đã thêm một kỹ thuật thống kê gọi là phân tích đa biến vào hỗn hợp của các kỹ thuật phân tích tỷ số truyền thống, cho phép ông có thể xem xét không chỉ ảnh hƣởng của một số tỷ số trên tính chính xác của mô hình phá sản, đồng thời phải xem xét làm thế nào những ảnh hƣởng đến tỷ số hữu dụng trong mô hình. Altman đã phát triển mô hình Z-score sau khi đánh giá 66 công ty, một nửa trong số đó đã nộp đơn xin phá sản giữa năm 1946 và 1965. Ông bắt đầu với 22 tỷ số phân thành năm loại bao gồm: Thanh khoản, lợi nhuận, đòn bẩy, khả năng thanh toán và hoạt động - nhƣng cuối cùng thu hẹp nó xuống đến năm tỷ số. Mô hình Altman Z-score xác định nhƣ thế nào có thể là một công ty gặp nguy cơ khủng hoảng, trong đó đặc biệt là xác định nguy cơ gặp rủi ro phá sản của Doanh nghiệp hoặc khả năng tài chính của Công ty trong ngƣỡng an toàn, hay tốt.
Công thức đánh giá bảy phần dữ liệu đơn giản, tất cả đều nên có sẵn trong báo cáo tài chính công bố công khai của Công ty. Đây là một điều kiện rất lý tƣởng cho việc vận dụng mô hình này cho bất kể thành phần nào quan tâm đến mô hình. Mô hình Altman Z-score Z-score là sự kết hợp của 5 tỉ số tài chính khác nhau với các trọng số khác nhau dựa trên phân tích đa bội số MDA(multiple discriminant analysis). Công thức Z-score ban đầu (đối với doanh nghiệp đã Cổ phần hóa, ngành sản xuất) nhƣ sau: Z = 0,012X1 + 0,014X2 + 0,033X3 + 0,0064X4 + 0,999X5 Trong đó: X1 = Vốn lƣu động/Tổng tài sản X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản X3 = Thu nhập trƣớc lãi và thuế/Tổng tài sản X4 = Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu/Tổng nợ phải trả X5 = Doanh thu/Tổng tài sản Trong mô hình này, các biến từ X1đến X4đều phải đƣợc tính toán bằng giá trị phần trăm.
Ví dụ, một công ty có Vốn lƣu động / Tổng tài sản (X1)là 15% thì số liệu đƣợc đƣa vào mô hình là 15, không phải 0,15. Riêng biến X5(Doanh thu/Tổng tài sản) đƣợc giữ nguyên, không tính tỉ lệ phần trăm. Sau nhiều năm phát triển, mô hình đƣợc thay đổi một số đặc điểm kĩ thuật để việc vận dụng đƣợc thuận tiện hơn: Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3X3 + 0,64 X4 + 0,999 X5 Với mô hình dạng này, các biến từ X1đến X5không cần tính toán bằng giá trị phần trăm. Nếu Z > 2,99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chƣa có nguy cơ phá sản.
Nếu 1,8< Z < 2,99 : Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. Nếu Z < 1,8 : Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ phá sản cao. Mô hình Z - score của Altman (1993) đã ƣớc đoán chính xác 66% doanh nghiệp bị phá sản và 78% doanh nghiệp không bị phá sản trƣớc đó một năm. Nhờ những dự đoán khá chính xác của mô hình này nên chỉ số đƣợc sử dụng không chỉ tại Mỹ mà còn đƣợc phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, mô hình này không chỉ ra đƣợc thời gian phá sản dự kiến, vì việc phá sản của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế, việc phá sản hợp pháp không bao giờ có thể xảy ra mà bất chấp tình hình khủng hoảng.Từ chỉ số Z ban đầu đƣợc sử dụng cho các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, Altman phát triển thêm Z’, Z’’ để có thể áp dụng loại hìnhcho các loại hình doanh nghiệp khác: Mô hình Z’- score dùng cho các doanh nghiệp chƣa cổ phần hóa, ngành sản xuất: Z’ = 0,717 X1+ 0,847 X2+ 3,107X3+ 0,420 X4+ 0,998 X5 Trong đó các biến đều đƣợc giữ nguyên với mô hình cũ, ngoại trừ biến X4. X4 trong chỉ số Z sử dụng giá trị thị trƣờng của vốn chủ sở hữu, còn trong chỉ số Z’, X4sử dụng giá trị sổ sách. Nếu Z’ > 2,9 : Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chƣa có nguy cơ phá sản. Nếu 1,23< Z’ < 2,9 : Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản.
Nếu Z’ < 1,23 : Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ phá sản cao. Mô hình Z’’- score cho các doanh nghiệp khác: Z’’ = 6,56 X1 + 3,26 X2 + 6,72 X3 + 1,05 X4 Giống với chỉ số Z’, biến X4 trong chỉ số Z” vẫn sử dụng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu. Điểm sửa đổi của mô hình này là không sử dụng biến X5và dẫn đến hệ số của các biến từ X1đến X4đều thay đổi so với chỉ số Z’. Chỉ số Z” có thể đƣợc dùng cho hầu hết các ngành và các loại hình doanh nghiệp.
Nếu Z” > 2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chƣa có nguy cơ phá sản. Nếu 1,1 < Z” < 2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. Nếu Z” < 1,1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ phá sản cao. Mô hình Z” điều chỉnh Nếu nhƣ các chỉ số Z trƣớc đây chỉ dừng lại ở việc cảnh báo dấu hiệu phá sản thì năm 1995, Altman, Hartzell và Peck đã tiến hành nghiên cứu trên 700 công ty và để cho ra chỉ số Z” điều chỉnh (còn gọi là mô hình EMS).
Điểm nổi bật của chỉsố Z” điều chỉnh có sự tƣơng đồng khá cao với phân loại trái phiếu của S&P. Điều này hàm ý các mô hình toán học có sự liên thông với phƣơng pháp chuyên gia trong việc phân loại rủi ro tín dụng. Z” điều chỉnh = Z’’ + 3,25 = 6,56 X1+ 3,26 X2+ 6,72 X3+ 1,05X4+ 3,25 [Sự tương đồng giữa chỉ số Z” điều chỉnh với xếp hạng của S&P được Edward I.Altman thể hiện trong bài nghiên cứu “The use of Credit scoring Model and The Important of a Credit Culture”] Khi sử dụng chỉ số Z” điều chỉnh, chúng ta cần lƣu ý hai vấn đề: (1) Mặc dù chỉ số Z” điều chỉnh và xếp hạng của S&P có sự tƣơng đồng khá cao nhƣng không phải là tuyệt đối; (2) Tuy chỉ số Z” điều chỉnh đƣợc sử dụng khá tốt ở thị trƣờng khác nhƣng khi sử dụng tại VN cũng cần phải có sự nghiên cứu điều chỉnh. Tuy nhiên, trong bối cảnh VN, khi thị trƣờng xếp hạng tín nhiệm chƣa thực sự phát triển, việc ƣớc tính hệ số tín nhiệm bằng chỉ số Z” điều chỉnh có thể chấp nhận đƣợc.
Lựa chọn mô hình Altman Z-score phù hợp với các Công ty Bất động sản ở Việt Nam 1. Lựa chọn mô hình Z-score phù hợp với các Công ty Bất động sản Việt Nam Từ các mô hình trên ta có thể thấy với những đặc trƣng của ngành Bất động sản và các đối tƣợng nghiên cứu của chúng ta là các Công ty Bất động sản niêm yết trên sàn chứng khoán, chúng ta có thể sử dụng mô hình điểm Z” làm mô hình áp dụng cho các Công ty Bất động sản Việt Nam. Nội dung và các yếu tố ảnh hƣởng của mô hình Z-score: a) X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản (Working Capital/Total Assets (WC/TA)) Vốn lƣu động/Tổng tài sản, thƣờng đƣợc tìm thấytrongcác nghiên cứu vềthực trạng năng lựccủa Công ty, làmột thƣớc đo củatài sản lƣu độngròng của Công tytƣơng đốivới tổng sốvốn. Vốn lƣu độngđƣợc định nghĩa làsự khác biệt giữaTài sản ngắn hạnvànợ ngắn hạn.Thanh khoảnvà kích thƣớcđặc điểmđƣợc coi làmột cách rõ ràng.
Thông thƣờng,một công tytrải quakhoản lỗ hoạt độngphù hợpsẽthu hẹp. Tài sản ngắn hạnliên quan đếntổng tài sản.Trongbachỉ số đánh giá khả năng thanh khoản, chỉ số nàyđƣợc chứng minh làcó giá trị nhất. Haichỉ số thanh khoảnkhác là tỷ sốthanh toán hiện tại (=tài sản lƣu động/nợ ngắn hạn) vàtỷ số thanh toán nhanh(=Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền+các khoản phải thu+các khoản đầu tƣ ngắn hạn/nợ ngắn hạn). Điều đó cho thấy là íthữu íchvà có thểxu hƣớngđi cố định ở các doanh nghiệpgặp sự cố tài chính.
b) X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản(Retained Earnings/Total Assets (RE/TA)) Lợi nhuận giữ lại là khoản mà các báo cáo tổng số thu nhập tái đầu tƣ và/hoặc tổn thất của một Công ty trong hoạt động kinh doanh của mình. Khoản này còn đƣợc gọi là thặng dƣ thu đƣợc. Cần lƣu ý rằng các khoản lợi nhuận giữ lại tùy thuộc vào "thao tác" thông qua công ty bán tái tổ chức và khai báo cổ tức cổ phiếu. Theo biện pháp này, lợi nhuận đƣợc tích lũy theo thời gian là những gì tôi đề cập trƣớc đó nhƣ là một tỷ số "mới".
Tuổi đời của một công ty mặc nhiên đƣợc xem xét trong tỷ số này. Ví dụ, một công ty tƣơng đối trẻ có thể sẽ cho thấy một tỷ số RE/TA thấp bởi vì nó chƣa có đủ thời gian để tạo ra đƣợc lợi nhuận tích lũy của nó. Do đó, có thể đƣợc lập luận rằng công ty trẻ phần nào bị phân biệt đối xử trong phân tích này, và cơ hội của những công ty này đƣợc phân loại nhƣ phá sản là tƣơng đối cao hơn so với một công ty lớn hơn. Tuy nhiên, đây chính là tình huống trong thế giới thực.
Tỷ lệ thất bại cao hơn rất nhiều trong những năm trƣớc đó của một công ty. Vào năm 1993, khoảng 50% của tất cả các Công ty thất bại đã bị nhƣ vậy trong năm năm đầu tiên của thành lập (Dun &Bradstreet, 1994).