CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. ĐẤT ÚNG TRŨNG NGẬP NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI Như chúng ta đã biết, đất đai toàn câu có 13.392 triệu ha, trong đó chỉ có khoảng 30% diện tích thích hợp cho trồng trọt [41,124]. Dân số thế giới tiếp tục tăng, dự đoán sẽ tăng tới 8,3 tỷ vào năm 2025 và khoảng 10 tỷ vào năm 2050 (Obasi (1997) [41]). Trước vấn đề đất đai có hạn, dân số tiếp tục tăng, đòi hỏi cả cộng đồng thế giới phải quan tâm nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất, loại tài nguyên đặc biệt, không thể tái sinh nhằm sử dụng có hiệu quả lâu bền, tạo ra nhiều nông sản hàng hoá phục vụ lợi ích của con người.
Trong các loại đất được quan tâm nghiên cứu phải kể đến đất vùng úng trũng, đây là loại đất ngập nước (Wetland) mà công ước RAMSAR đã thông qua ngày 2/2/1971 tại Ramsar, thành phố trên bờ biển Caspien nước lran và có hiệu lực từ tháng 12 năm 1975. Hiện tại có trên 50 định nghĩa khác nhau về đất ngập nước. Với tầm quan trọng rộng lớn nhất, công ước RAMSAR đã xác định "Đất ngập nước là vùng đồng lây, sình lầy, vùng than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, với nước thường xuyên hay tạm thời, nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng nước biển có độ sâu không quá 6m khi thủy triều thấp" (Nguyễn Khác Kính, 1996 [27]). Như vậy, đất ngập nước bao gồm nhiều loại đất rất phong phú, trong đó có đất trồng lúa nước trên hành tinh chúng ta.
Với diện tích đất lúa trên thế giới chịu ảnh hưởng của nước mưa là 68,7 triệu ha, trong đó đất ngập nước ở mức độ khác nhau là 49,6 triệu ha (Huke, 1982) [114] và (Herdt và Palacpac, 1983) [112]. Đất úng trũng trồng lúa với thuật ngữ Waterlogged lowland rice có diện tích là 7,2 triệu ha [112,114]. Do vậy, việc nghiên cứu đất đai vùng úng trũng được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm. Nó được nhấn mạnh, thảo luận từ năm 1985.
Từ năm 1987, nó được chọn là trọng tâm của hội thảo (Khause lampe - Director general - IRRI, 1989) [118].Vấn dé qui hoạch, sử dụng đất nói chung và vùng ting tring nói riêng đã được tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc hướng dẫn chung thông qua các tài liệu FAO (1974) [107]; Unger Paul (1984) [80]; FAO (1993) [105]; FAO (1994) [106]; Để đưa ra được các mô hình canh tác phù hợp với vùng đất úng trũng, các nhà khoa học đã đi đến những thống nhất trong đánh giá, phân loại đất lúa theo chế độ nước. Tuỳ theo mục đích sản xuất và hướng sử dụng đất úng triing, mỗi quốc gia có chiến lược sử dụng tài nguyên nước trên đất úng trũng khác nhau. Mỗi mục đích đều tính đến sử dụng tài nguyên đất, nước và hiệu quả kinh tế đầu tư cho sản xuất. Theo Davit Catling, 1992 [99] từ năm 1891, Watt đã mô tả sản xuất và kết quả quan sát ruộng lúa úng trũng ở Belgal.
Việc nghiên cứu, tính toán tổng hợp mộng úng trũng trồng lúa trước đây ở Belgal và Đông Pakistan trước năm 1960 đã được đưa ra ở Alim (1962) và mốc quan trọng trong nghiên cứu lúa ngập úng trũng giữa năm 1934 và 1977 đã được mô tả bởi Jachson và Vergara (1979) [115]. Tiếp theo công việc mô tả, tổng hợp là phân loại đất úng trũng trồng lúa. Theo Garrvity, Oldeman, Morris và Lenca (1986) [108] có 18 loại riêng biệt của đất lúa đã được nhận biết, trong đó đất úng trũng trồng lúa có thể chia ra 4 loại sau: - Đất ngập nước nông 0- 30cm, thiên về ngập nước, có khi hạn. - Đất ngập nước sâu trung bình, úng, mực nước ngập 30 - 50cm đối với thời điểm trọng yếu của mùa vụ trồng trọt.
Cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, ngập cũng có thể xảy ra. - Đất có nước ngập sâu 50 - 100cm ~ Đất có nước ngập sâu trên 100cm. Việc đưa ra các thuật ngữ, phân loại đất theo chế độ nước tạo điều kiện khai thác tốt nhất vùng đất úng trũng nhằm nâng cao đời sống nhân dân trong vùng. Vì vậy mạng lưới nghiên cứu lúa vùng úng trũng ngập sâu trên thế giới được thành lập.
Các hội thảo vẻ đất, lúa vùng đất ngập nước, trũng úng được tổ chức nhằm trao dổi những thông tin, tiến bộ kỹ thuật trong nghiên cứu lĩnh vực này ( Nasiruddin, Wan and Miah, (1988) [120]). Phân loại đất úng trũng cũng nằm trong khuôn khổ phân loại đất chung của từng quốc gia và thế giới. Phân loại đất đã được các nhà khoa học thổ nhưỡng quan tâm, nhiều thế hệ đã đặt nền móng và phát triển. Có những quan điểm, trường phái, nội dung và hệ thống phân loại đánh giá đất khác nhau.
Theo David Catting (1992) [99], hiện nay trên thế giới tồn tại 3 khuynh hướng chính trong phân loại đất như sau: - Phan loại đất theo quan điểm phat sinh, phát triển của Docutraiep. Nó được sử dụng ở Liên Xô (cñ), nhiều nước Đông Âu, Pháp, Bỉ, Bumma và Miền Bắc Việt Nam. - Phân loại đất theo quan điểm định lượng tính chất hay phân loại thực dụng (Soil taxonomy): Mỹ và một số nước sử dụng. ~ Phân loại đất theo khuynh hướng hỗn hợp như một số nước Tay Au.
Để có sự thống nhất trong phân loại đất, thế giới khắc phục bằng một dự án do UNESCO tài trợ, FAO thực hiện đã xây dựng và đưa ra được bảng phân loại và bản đồ thổ nhưỡng thế giới tỷ lệ 1:5000. Nó được chia thành 10 tập cho các lục địa (Soi map of World- FAO- UNESCO 1975,1988,1990) (99,102, 103]. Từ kết quả này đã được các quốc gia ở Châu Á, Niger ở Tây Phi, nơi có vùng đất úng trũng, trồng lúa ngập sâu sử dụng. Những đơn vị đất tính theo hệ thống phân loại của FAO-UNESCO System ở những vùng trồng lúa ngập sâu Châu Á, Tây Phi thể hiện ở bảng 1.
Bảng I: ĐƠN VỊ ĐẤT CHÍNH Ở NHỮNG VÙNG LÚA NGẬP SÂU Ở CHÂU Á VÀ TÂY PHI THUỘC CÁC ĐỒNG BẰNG VÀ QUỐC GIA (David Cattling, 1992) [99] Ganges/ Brahmaptura | Irrawaddy ChacPhrayal Mekong Niger BV. đất đai ẨnĐộ | Bănglađet| Burma | ThaiLan | V@tNam | Mai FAO- UNESCO Campuchia Niger Eutric Gleysols +++ +++ + ++ +++ Calcaric Gleysols ++ Calcic Cambisols Gleyic Acrisols Orthic Luvisols Ghi chú: + = < 20 %; ++=20- 50 %; +++=> 50 %. Qua bảng 1 đã chỉ ra rằng, Eutric Gleysols là loại đất có ở tất cả các vùng nghiên cứu và chiếm khoảng 1/2 diện tích đất lúa ngập sâu. Loại đất Eutric Gleysols hơn 3 triệu ha, Calcaric Gleysols khoảng 0,5 triệu ha, Dystric Gleysols 0,4 triệu ha.
Theo David Cattling (1992)[99] những đặc tính chung cia dat tring, ting duoc mé ta ở Băng la đét, nơi có nhiều đất trũng, ting ở châu Á. Đất ngập úng ở Băng la đét được hình thành do bồi đắp phù sa sông từ xa xưa tới nay hàng nghìn năm. Lịch sử phát triển có thể rất nhanh, loại trừ những vùng ngập vĩnh viễn. Hoạt động của quần thể động vật đất, đặc biệt là giun đất, có thể phá hại đất phù sa trong 25 năm ở lớp trầm tích.
Ở vùng đất ngập trẻ hơn có thể được hình thành trong khoảng 10- 25 năm. Phẫu diện ở tất cả những đất trẻ nhất. - Tầng đất mặt đã xáo trộn bởi trồng trọt với việc làm đất cơ bản. - Tầng ngay dưới tang đất mặt, nơi sự phân tầng ban đầu là rõ, bị phá vỡ chỉ ra những đặc tính mới như cấu trúc, mầu sắc,.
- Tầng dưới, phù sa phân tầng, một số loại đất có thể bao gồm một hay nhiều loại tầng đất cũ hơn. Đất vùng úng trũng có những hạn chế về tính chất lý hoá tính, vi sinh vật đất, do đó đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng. Tuỳ từng đơn vị đất đai được phân loại theo FAO- UNESCO và những yếu tố hạn chế khác nhau đến độ màu mỡ của đất. Theo David Cattling (1992) [99] có khoảng 0,5 triệu ha bị hạn chế bởi H;SO/, 1 triệu ha bị ảnh hưởng bởi kiểm, 0,2 triệu ha do CEC thấp và 0,5 triệu ha đã bị ảnh hưởng tổng hợp bởi nhiều yếu tố như hàm lượng axit cao, CEC thấp, lân bị cố định (giữ chặt) cao, mặn, chất dinh dưỡng dự trữ thấp.
Vẻ những nghiên cứu này, theo tác giả không phân biệt được giữa đất ngập nước trung bình (30 - 50cm) và đất ngập nước sâu (50 - 100 cm). Do vậy, gộp 2 loại này làm cùng 1 loại đất ngập từ 30 - 100cm. Tổng 2 loại đất ngập nước từ 30 - 100 cm và lớn hơn 100 cm chiếm 10 50% diện tích. Kết quả nghiên cứu những yếu tố hạn chế đến độ màu mỡ ở đất ngập sâu lớn hơn 50 cm thể hiện ở bảng 2 (số liệu căn cứ vào Part III - FAO- UNESCO- Soil Map of the World).
Bảng 2: QUY MÔ DIỆN TÍCH ĐẤT LÚA NGẬP SÂU Ở CHÂU Á VỚI NHỮNG YẾU TỐ HẠN CHẾ ĐỘ PHÌ NHIÊU ĐẤT (David Cattling, 1992 [99]) ~ Qui mô Đơn vị đất Những yếu tố hạn chế tới diện tích FAO-UNESCO độ phi nhiêu đất (1000ha) Calcaric Gleysols | Chứa nhiều Canxi với CO* tự do pH >7,3 Calcaric Fluvisol | pH cao có thể bao gồm: thiếu sắt 1 100 Calcic Cambisol Dystric Gleysols Khả năng trao đổi cation thấp 600 | (Low CEC). Hữu cơ, than bùn (Peatiness), trạng thái 100 Dystric Histosol dinh dưỡng thấp Tổng 2400 Số liệu bảng 2 cho thấy, diện tích chịu ảnh hưởng hạn chế bởi 1 hoặc nhiều yếu tố là 2,4 triệu ha, chiếm khoảng 30 % đất lúa ngập sâu ở châu Á. Tuỳ theo địa hình và lượng mưa mà các vùng đất thấp có mức ngập và thời gian ngập nước khác nhau. Các vùng này theo Suichi Yosida, [49] có thể chia ra 2 mức: - Vùng nước sâu: ll Mực nước sâu khoảng 150 - 400 cm và thường tồn tại trên đồng ruộng khoảng 3 - 4 tháng.
Ở vùng này người ta trồng các giống lúa đặc biệt gọi là lúa nổi. Ở Băng la đet, Đông bắc Ấn Độ và Thái Lan có diện tích lúa nổi rất rộng. - Vùng ngập lụt: Mực nước sâu dưới 150 cm và thường lưu cữu trong ruộng chỉ mấy tháng. Các vùng này người ta dùng các giống lúa cao cây và chịu được úng (Allison, 1974 [93]).
Ngoài ra còn có các vùng bị úng mực nước và thời gian bị ngập thay đổi. Ở một số vùng nạn úng hầu như xảy ra quanh năm nhưng có các vùng chỉ ngập xảy ra trong thời gian gió bão hoặc mưa bão liên tục (Suichi Yosida, 1985, [49]). Anwarhan (1987) [129], ở Kalimantan, Indonesia có khoảng 600 000 ha ngập úng ở 3 mức: ngập nông, ngập sâu và ngập trung bình.