Tổng quan luận án

Nghiên cứu bảo tồn các loài thực vật hạt trần nguy cấp tại Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách của ngành lâm học. Theo các đánh giá thực vật học, Việt Nam là một trong mười điểm nóng về tính đa dạng của ngành Thông (Pinophyta) trên thế giới. Tuy nhiên, mức độ đe dọa tuyệt chủng đối với nhóm loài này tại Việt Nam rất cao: khoảng 40% số loài được xếp vào danh sách bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu và gần 90% số loài bị đe dọa ở cấp quốc gia. Vùng núi đá vôi Đông Bắc, tiêu biểu là tỉnh Hà Giang, là nơi hội tụ nhiều taxon Thông bản địa có giá trị khoa học và sinh thái đặc biệt. Trong đó, chi Thiết sam giả (Pseudotsuga) ở Việt Nam hiện chỉ ghi nhận một loài duy nhất là Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C.Cheng & L.K.Fu, 1975; tên đồng nghĩa: Pseudotsuga sinensis var. brevifolia (W.C.Cheng & L.K.Fu) Farjon & Silba). Loài này đã được xếp ở cấp Sẽ nguy cấp (VU) trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2014) do quần thể nhỏ, phân bố hẹp và chịu sức ép khai thác mạnh. Mặc dù vậy, các dữ liệu nền tảng về đặc tính sinh học, cấu trúc giải phẫu lá, đặc trưng sinh thái lập địa, khả năng tái sinh và kỹ thuật nhân giống phục vụ công tác bảo tồn loài tại Hà Giang trước thời điểm nghiên cứu vẫn chưa được khảo sát đầy đủ.

Nhằm giải quyết khoảng trống đó, luận án tiến sĩ lâm nghiệp của nghiên cứu sinh Lê Văn Phúc với đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W. Fu, 1975) tại tỉnh Hà Giang" xác định các mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái và đặc trưng lâm học của loài Thiết sam giả lá ngắn trong các quần xã thực vật rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu.
  2. Thử nghiệm kỹ thuật nhân giống vô tính từ hom cành và xác định một số nhân tố ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển của loài trong tự nhiên làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này tại địa phương.

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W. Fu, 1975) mọc tự nhiên trên các hệ sinh thái núi đá vôi. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại địa bàn hai huyện Quản Bạ và Đồng Văn, tỉnh Hà Giang – hai vùng phân bố tập trung nhất của loài. Phạm vi nội dung bao gồm hình thái, vật hậu, giải phẫu lá, cấu trúc quần xã thực vật, tái sinh tự nhiên, thử nghiệm nhân giống vô tính bằng giâm hom và điều tra tác động kinh tế - xã hội. Luận án được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2016, với các đợt thu thập số liệu thực địa liên tục trong các năm 2012 - 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về phân loại và đa dạng của ngành Thông (Pinophyta), các công trình quốc tế của Lott J. et al. (1971), Nizam Khan U. et al. (1971), Farjon & Page (1999), Michael Frankis (1999, 2002) và Richardson D. (2000) đã xác lập hệ thống phân loại dựa trên đặc điểm nón, hạt, giải phẫu lá và chỉ thị phân tử. Chi Pseudotsuga Carrière (1867) thuộc họ Pinaceae Sprengel, được thống kê có từ 6 loài chính (theo Thực vật chí Trung Quốc của Fu L. et al., 1999) đến 75 tên loài được mô tả trên thế giới, phân bố chủ yếu ở Đông Á và Bắc Mỹ. Đối với loài Pseudotsuga brevifolia, các nghiên cứu của Wu & Raven (1999), Farjon A. et al. (2013) và Ying T. et al. (2004) chỉ ra rằng loài chỉ phân bố rải rác tại các sườn núi và đỉnh núi đá vôi ở vùng Tây Nam Trung Quốc (Quảng Tây, Quý Châu) và vùng Đông Bắc Việt Nam ở đai cao trên 1.000 m.

Tại Việt Nam, các công trình của Lê Trần Chấn và cs (1999), Trần Hợp (2002), Lê Mộng Chân và cs (2000), Nguyễn Đức Tố Lưu và Thomas (2004), Nguyễn Tiến Hiệp và cs (2004, 2005) đã thống kê hệ thực vật hạt trần bản địa gồm 29 - 33 loài thuộc 19 chi và 5 họ. Số liệu so sánh giữa hệ thực vật Thông Việt Nam và thế giới được tổng hợp như sau:

STT Họ thực vật Số chi trên thế giới Số loài trên thế giới Số chi ở Việt Nam Số loài ở Việt Nam Số loài đặc hữu ở Việt Nam
1 Araucariaceae 3 41 0 0 0
2 Cephalotaxaceae 1 5 - 11 1 1 0
3 Cupressaceae 30 135 7 8 2
4 Phyllocladaceae 1 4 0 0 0
5 Pinaceae 11 225 5 12 1 (2?)
6 Podocarpaceae 18 190 4 6 (1 - 3?)
7 Sciadopityaceae 1 1 0 0 0
8 Taxaceae 5 23 2 6 2
Tổng 8 họ 70 624 - 630 19 33 5 (9?)

Về nhân giống sinh dưỡng, Singh S. (2006) khi nghiên cứu loài Taxus baccata L. chứng minh chất kích thích ra rễ IBA nồng độ cao cho tỷ lệ ra rễ đạt 60,01% - 76,68%. Ở trong nước, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cs (2001, 2002) giâm hom thành công Bách xanh, Pơ mu; Lê Đình Khả và cs (2003), Nguyễn Sinh Khang và cs (2011) xử lý hom Thông đỏ bắc (Taxus chinensis) bằng IBA đạt tỷ lệ ra rễ 60% - 83,59%; Tô Văn Thảo và cs (2003) nghiên cứu nhân giống hom Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis); Trần Ngọc Hải (2012) giâm hom Du sam đá vôi (Keteleeria davidiana) với IBA 1.000 ppm đạt tỷ lệ 11,11%. Riêng Dự án VN/06/011 (2007 - 2009) tại xã Thài Phìn Tủng (Đồng Văn) đã thử nghiệm giâm hom 9 loài cây lá kim núi đá nhưng sau 5 tháng hom Thiết sam giả lá ngắn vẫn chưa thể ra rễ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là sự thiếu hụt các dẫn liệu thực nghiệm về hình thái học, chu kỳ vật hậu, cấu tạo giải phẫu lá thích nghi, tổ thành lâm phần, mật độ tái sinh tự nhiên và nguyên nhân hạn chế tái sinh của loài Thiết sam giả lá ngắn tại Hà Giang. Đồng thời, luận án xác định quy trình xử lý hóa chất kích thích sinh trưởng thích hợp nhằm giải quyết trở ngại nhân giống vô tính loài cây này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của sinh thái học quần xã và sinh thái học bảo tồn: sự tồn tại của một taxon thực vật phụ thuộc chặt chẽ vào cấu trúc lập địa, vi khí hậu, quan hệ cạnh tranh sinh thái liên loài và tính liên tục của các thế hệ tái sinh tự nhiên. Khi sinh cảnh bị thu hẹp và quần thể bị chia cắt, bảo tồn tại chỗ (in-situ) phải đi đôi với thu thập nguồn gen để nhân giống bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa điều tra thực địa và phân tích thực nghiệm:

  • Phương pháp kế thừa: Kế thừa số liệu tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang (Niên giám thống kê 2013) và các bản đồ phân bố thực vật quý hiếm trước đó của Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Lê Trần Chấn.
  • Điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập 10 tuyến điều tra điển hình đi qua các sinh cảnh có loài phân bố (05 tuyến tại huyện Quản Bạ, 05 tuyến tại huyện Đồng Văn).
  • Nghiên cứu hình thái và vật hậu: Chọn 5 cây tiêu chuẩn đại diện, sinh trưởng tốt, không sâu bệnh; trên mỗi cây đánh dấu 3 cành tiêu chuẩn ở 3 vị trí tán (ngọn, giữa và dưới tán). Đo đếm kích thước các cơ quan (thân, vỏ, cành, lá, nón, hạt). Theo dõi chu kỳ vật hậu 4 mùa/năm trong 2 năm (2012 - 2013) bằng quan sát trực tiếp theo hướng dẫn của Lê Mộng Chân (2000) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007).
  • Phân tích giải phẫu lá: Lấy mẫu lá trưởng thành, làm tiêu bản vi phẫu ngang phiến lá trong phòng thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu giải phẫu mô biểu bì, khí khổng, mô giậu và ống nhựa.
  • Điều tra sinh thái và cấu trúc lâm phần: Lập các ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích điển hình tại hai vị trí địa hình đặc trưng là sườn núi và đỉnh núi đá vôi. Đo đếm đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đường kính tán ($D_t$), đo độ tàn che, vẽ phẫu đồ rừng, tính chỉ số quan trọng (IVI) và hệ số tương quan sinh thái giữa Thiết sam giả lá ngắn với các loài đi kèm.
  • Điều tra cấu trúc tầng cây tái sinh: Bố trí các ô dạng bản (ODB) trong OTC. Thống kê mật độ, tổ thành loài, phân cấp chiều cao, chất lượng cây con (tốt, trung bình, xấu) và nguồn gốc (hạt, chồi). Đo khoảng cách và tần xuất phân bố cây tái sinh quanh gốc cây mẹ.
  • Phương pháp thực nghiệm giâm hom: Tiến hành 3 đợt thí nghiệm: Đợt 1 và đợt 2 thực hiện tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên); đợt 3 thực hiện tại Trung tâm bảo tồn Thông (xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ, Hà Giang). Sử dụng 3 chất điều hòa sinh trưởng gồm Indole-3-Acetic Acid (IAA), Indole-3-Butyric Acid (IBA) và Naphthalene Acetic Acid (NAA) ở 4 mức nồng độ: 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm và 1.000 ppm. Theo dõi tỷ lệ hom sống, tỷ lệ ra rễ, số lượng rễ và chiều dài rễ.
  • Điều tra kinh tế - xã hội: Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương tại các xã nghiên cứu.
  • Xử lý số liệu: Số liệu thực địa được tính toán thống kê sinh vật học; thiết lập các phương trình tương quan sinh trưởng ($H_{vn}/D_{1.3}$ và $D_t/D_{1.3}$) theo dạng hàm đường thẳng, hàm logarit và hàm parabol.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu về ngành Thông, họ Thông (Pinaceae) và chi Thiết sam giả (Pseudotsuga) trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt phân loại, luận án thống nhất xác định tên khoa học của đối tượng nghiên cứu là Pseudotsuga brevifolia W.C.Cheng & L.K.Fu (1975) thuộc họ Pinaceae. Về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, tỉnh Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên là 791.488,92 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 566.545,2 ha (tỷ lệ che phủ rừng năm 2014 đạt 54,4%). Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa núi cao, nhiệt độ không khí trung bình năm từ 21,6°C đến 23,9°C, lượng mưa bình quân đạt 2.400 mm/năm (riêng khu vực Bắc Quang đạt trên 4.000 mm/năm), độ ẩm không khí bình quân 78%. Địa hình vùng nghiên cứu thuộc cao nguyên đá Đồng Văn mang đặc trưng karst hiểm trở, có độ cao phổ biến từ 800 m đến 1.200 m, với các vách đá dốc đứng và tầng đất mỏng.

Về kinh tế - xã hội, dân số tỉnh Hà Giang năm 2013 là 778.958 người với 22 dân tộc, trong đó dân tộc Mông chiếm 32%, Tày 23%, Dao 15%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 85,73%, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 9%. Đời sống người dân tại hai huyện nghiên cứu phụ thuộc trực tiếp vào rừng; tỷ lệ hộ nghèo rất cao (huyện Đồng Văn đạt 51,09%, Quản Bạ ở mức cao). Diện tích đất trồng lúa nước bình quân đầu người tại hai huyện chỉ đạt 182 $m^2$/người (sản lượng lương thực quy thóc đạt 101 kg/người/năm, tương đương 4,7 kg gạo/tháng), dẫn đến sức ép phá rừng làm nương rẫy, khai thác củi và chặt hạ cây gỗ có giá trị để làm nhà.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết kế hoạch thực hiện 6 nội dung nghiên cứu lớn, xây dựng hệ thống 10 tuyến điều tra và thiết lập các công thức thí nghiệm giâm hom. Chương này mô tả cấu trúc các phiếu điều tra chuyên dụng được ban hành kèm theo phụ lục luận án:

  • Biểu 01: Phiếu điều tra khí hậu và vật hậu học Thiết sam giả lá ngắn.
  • Biểu 02: Biểu điều tra tầng cây cao trong ô tiêu chuẩn.
  • Biểu 03: Biểu điều tra tầng cây bụi và thảm tươi.
  • Biểu 04: Phiếu điều tra cây tái sinh trong ô dạng bản.
  • Biểu 05: Phiếu điều tra tái sinh loài Thiết sam giả lá ngắn dưới tán cây mẹ.
  • Biểu 06: Phiếu điều tra động thái tăng trưởng của cây con tái sinh.

Chương 2 cũng chuẩn hóa quy trình phân tích vi phẫu cấu tạo lá, phương pháp lập ô tiêu chuẩn tại hai dạng địa hình sườn và đỉnh núi đá vôi, cùng phương pháp bố trí các công thức thí nghiệm giâm hom cành có đối chứng tại vườn ươm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và trạm nghiên cứu tại Hà Giang.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu qua 6 nội dung:

1. Đặc điểm sinh học: Thiết sam giả lá ngắn tại Hà Giang là loài cây thân gỗ lớn, mọc thẳng hoặc hơi cong nghiêng bám vào vách đá, vỏ ngoài màu nâu xám nứt dọc sâu, lá hình dải hẹp dài 1 - 2,5 cm, xếp xoắn ốc nhưng tỏa ra hai bên cành. Kết quả vi phẫu giải phẫu lá phản ánh cấu trúc thích nghi cao độ với môi trường khô hạn trên núi đá vôi: tầng cutin dày, khí khổng chìm sâu thành dải ở mặt dưới, mô giậu phát triển và ống nhựa nằm sát biểu bì. Về vật hậu, loài nảy lộc vào mùa xuân (tháng 2 - 3); tuy nhiên chu kỳ sinh sản rất thất thường: trong 2 năm theo dõi (2012 - 2013), chỉ có năm 2012 quan sát thấy cây ra nón và cho hạt, năm 2013 hoàn toàn không ghi nhận chu kỳ kết hạt. Sinh trưởng đường kính ($D_{1.3}$) và chiều cao ($H_{vn}$) của cây trưởng thành diễn ra rất chậm, thể hiện qua các phương trình tương quan thực nghiệm:

Chỉ tiêu tương quan Dạng hàm số phân tích Phương trình tương quan toán học Đánh giá mức độ phù hợp
Chiều cao / Đường kính ($H_{vn} / D_{1.3}$) Hàm đường thẳng $H_{vn} = a \cdot D_{1.3} + b$ Phản ánh tương quan thuận tuyến tính ở giai đoạn cây non
Chiều cao / Đường kính ($H_{vn} / D_{1.3}$) Hàm Logarit $H_{vn} = a \cdot \ln(D_{1.3}) + b$ Thể hiện mức tăng trưởng chiều cao giảm dần khi cây thành thục
Chiều cao / Đường kính ($H_{vn} / D_{1.3}$) Hàm Parabol $H_{vn} = a \cdot D_{1.3}^2 + b \cdot D_{1.3} + c$ Phù hợp với quy luật sinh trưởng chung của cây gỗ rừng tự nhiên
Đường kính tán / Đường kính ($D_t / D_{1.3}$) Hàm Logarit & Tuyến tính $D_t = f(D_{1.3})$ Độ mở của tán chịu ảnh hưởng mạnh của gió đỉnh núi và vách đá

2. Đặc điểm sinh thái: Quần xã thực vật có Thiết sam giả lá ngắn phân bố chủ yếu ở đai độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển, tập trung ở các gờ đỉnh và sườn dốc hiểm trở. Đất tại khu vực phân bố là đất mùn xám phát triển trên đá vôi, tầng đất rất mỏng (thường chỉ dày 10 - 30 cm trong các kẽ đá), thoát nước nhanh, độ ẩm biến động mạnh. Tổ thành loài tầng cây cao thuộc kiểu rừng hỗn giao cây lá kim và cây lá rộng lá cứng thường xanh. Các chỉ số giá trị quan trọng (IVI) và phân tích tương quan sinh thái khẳng định Thiết sam giả lá ngắn giữ vai trò ưu thế sinh thái trên các đỉnh núi cao, nhưng tính đa dạng loài tổng thể bị suy giảm dần do sinh cảnh khắc nghiệt.

3. Đặc điểm lớp cây tái sinh: Tái sinh tự nhiên của loài gặp trở ngại nghiêm trọng. Số lượng cây con tái sinh trong các ô dạng bản rất thấp, mật độ trung bình dao động ở mức nghèo kiệt; tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng (CTV) đạt dưới 20%. Phần lớn cây mầm và cây con ở cấp chiều cao dưới 30 cm, tỷ lệ cây đạt chiều cao trên 1 m rất hiếm. Tần xuất phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang tập trung cục bộ quanh gốc cây mẹ (bán kính dưới 3 - 5 m), nguyên nhân do hạt có cánh rơi rụng tại chỗ, gặp điều kiện thảm mục mỏng và kẽ đá khô cằn nên khó nảy mầm và dễ chết khô vào mùa đông.

4. Khả năng nhân giống bằng hom: Luận án tiến hành 3 đợt thí nghiệm xử lý cành hom bằng các chất điều hòa sinh trưởng IAA, IBA và NAA:

  • Thí nghiệm tại Thái Nguyên (đợt 1 và đợt 2): Hom cành bắt đầu hình thành mô sẹo và bật rễ sau 3 đến 5 tháng theo dõi. Chất kích thích IBA cho kết quả vượt trội so với IAA và NAA; trong đó công thức xử lý IBA ở các nồng độ từ 500 ppm đến 1.000 ppm đạt tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ cao nhất.
  • Thí nghiệm tại Hà Giang (đợt 3 - xã Cán Tỷ, Quản Bạ): Xác nhận hom giâm có thể thích ứng tốt với điều kiện khí hậu bản địa, hom sống ổn định và phát triển hệ rễ hoàn chỉnh. Kết quả này chứng minh tính khả thi của phương pháp nhân giống sinh dưỡng bằng giâm hom phục vụ bảo tồn loài.

5. Nhân tố ảnh hưởng: Phân tích từ dữ liệu điều tra PRA và thực địa chỉ ra hai nhóm nhân tố tác động chính:

  • Nhân tố sinh thái tự nhiên: Địa hình núi đá chia cắt mạnh làm cô lập quần thể; chu kỳ kết hạt cách năm kéo dài kết hợp với tầng thảm tươi, cây bụi rậm rạp làm hạt khó tiếp xúc với đất.
  • Tác động nhân vi: Hiện tượng người dân địa phương đẽo vỏ, chặt hạ thân cây lấy gỗ làm nhà, cột rào, dùng làm củi đun và phá rừng mở rộng nương ngô đã phá hủy nghiêm trọng sinh cảnh sống và làm suy thoái quần thể.

6. Đề xuất giải pháp bảo tồn: Luận án đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Giải pháp quản lý: Đề nghị cơ quan có thẩm quyền bổ sung loài Thiết sam giả lá ngắn vào Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm IA hoặc IIA của Nghị định quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp) nhằm tạo hành lang pháp lý bảo vệ nghiêm ngặt.
  • Biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Thực hiện khoanh nuôi bảo vệ nguyên vị (in-situ) các lâm phần còn lại tại Quản Bạ và Đồng Văn; hỗ trợ tái sinh tự nhiên bằng cách phát dọn dây leo, xới nhẹ lớp đất mặt quanh gốc cây mẹ trước mùa rụng hạt; triển khai nhân giống vô tính bằng giâm hom cành theo quy trình đã thử nghiệm để xây dựng vườn giống bảo tồn chuyển vị (ex-situ).
  • Giải pháp kinh tế - xã hội: Hỗ trợ người dân bản địa phát triển mô hình sinh kế nông lâm kết hợp, giải quyết tình trạng thiếu đất canh tác lúa nước, chuyển đổi cơ cấu chất đốt nhằm giảm thiểu áp lực khai thác rừng tự nhiên trên núi đá.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án của tác giả Lê Văn Phúc mang lại các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn lâm học:

  • Về lý luận: Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về đặc điểm sinh học, chu kỳ vật hậu, cấu tạo giải phẫu lá và sinh thái học quần xã của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W. Fu, 1975). Các dẫn liệu giải phẫu vi mô phiến lá và các phương trình toán học mô tả tương quan sinh trưởng đường kính - chiều cao đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy cho chuyên ngành thực vật học và lâm sinh học núi đá vôi.
  • Về thực tiễn: Luận án là công trình đầu tiên thử nghiệm thành công kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom cành cho loài Thiết sam giả lá ngắn tại Việt Nam, vượt qua trở ngại của các nghiên cứu trước đó. Kết quả này mở ra giải pháp chủ động sản xuất cây giống phục vụ công tác bảo tồn ngoại vi và phục hồi rừng. Ngoài ra, việc xác định hiện trạng đe dọa thực tế cung cấp luận cứ để đề xuất đưa loài vào danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do đặc điểm chu kỳ sai quả của loài không diễn ra đều đặn hàng năm (trong 3 năm thực địa chỉ ghi nhận quả vào năm 2012, các năm 2013 - 2014 không có quả), luận án chưa thể thu thập đủ mẫu hạt để tiến hành thử nghiệm nhân giống hữu tính từ hạt và theo dõi tỷ lệ nảy mầm trong điều kiện kiểm soát. Ngoài ra, phạm vi khảo sát thực địa mới chỉ giới hạn trên địa bàn hai huyện Quản Bạ và Đồng Văn của tỉnh Hà Giang.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi chu kỳ ra hoa kết hạt trong các chu kỳ tiếp theo để hoàn thiện kỹ thuật thu hái, bảo quản và gieo ươm hạt giống Thiết sam giả lá ngắn. Đồng thời, cần triển khai theo dõi dài hạn sinh trưởng của cây con nhân giống bằng hom sau khi trồng phục hồi ngoài thực địa và mở rộng phạm vi điều tra sang các dải núi đá vôi lân cận thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị tham khảo ứng dụng trong nhiều lĩnh vực:

  • Đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học và Đa dạng sinh học. Phần phương pháp điều tra lâm học núi đá, biểu mẫu điều tra sinh học và quy trình phân tích giải phẫu lá là các tài liệu thực hành tiêu biểu.
  • Công tác quản lý và bảo tồn thực địa: Cung cấp tư liệu trực tiếp cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang, Ban quản lý Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn và các Khu bảo tồn thiên nhiên trong vùng trong việc xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng và quy hoạch phân khu bảo tồn nghiêm ngặt.
  • Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét cập nhật danh mục thực vật hoang dã nguy cấp và xây dựng chiến lược quốc gia về bảo tồn nguồn gen cây lá kim.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị trí phân loại khoa học và tên đồng nghĩa của loài Thiết sam giả lá ngắn được xác định như thế nào trong luận án?
Luận án xác định loài nghiên cứu có tên khoa học chính thức là Pseudotsuga brevifolia W.C.Cheng & L.K.Fu (1975), thuộc chi Thiết sam giả (Pseudotsuga), họ Thông (Pinaceae), bộ Thông (Pinales), lớp Thông (Pinopsida), ngành Thông (Pinophyta). Tên đồng nghĩa (synonym) được công nhận là Pseudotsuga sinensis Dode var. brevifolia (W.C.Cheng & L.K.Fu) Farjon & Silba.

2. Loài Thiết sam giả lá ngắn tại tỉnh Hà Giang phân bố ở những dạng lập địa nào?
Loài phân bố chủ yếu ở đai cao từ 1.000 m đến 1.300 m so với mực nước biển trên địa bàn hai huyện Quản Bạ và Đồng Văn. Cây sinh sống tập trung trên các sườn dốc hiểm trở và dông đỉnh núi đá vôi karst, nơi có tầng đất mùn mỏng (10 - 30 cm) nằm trong các hốc đá, khả năng giữ nước kém và điều kiện lập địa khô hạn.

3. Khả năng tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn gặp những khó khăn gì?
Khả năng tái sinh tự nhiên của loài rất kém: mật độ cây con thấp, số cây tái sinh có triển vọng đạt tỷ lệ dưới 20%, phần lớn cây con chỉ ở cấp chiều cao dưới 30 cm và rất hiếm cây đạt trên 1 m. Cây tái sinh phân bố cục bộ quanh gốc cây mẹ do hạt rơi tại chỗ; chu kỳ kết hạt ngắt quãng nhiều năm kết hợp với thảm mục mỏng trên đá vôi khiến hạt khó tiếp xúc với đất và dễ chết khô.

4. Kết quả thực nghiệm giâm hom cành loài Thiết sam giả lá ngắn đạt được như thế nào?
Luận án đã giâm hom thành công loài Thiết sam giả lá ngắn qua 3 đợt thí nghiệm tại Thái Nguyên và Hà Giang. Trong số các chất kích thích ra rễ được thử nghiệm (IAA, IBA, NAA ở nồng độ từ 250 ppm đến 1.000 ppm), chất điều hòa sinh trưởng IBA ở nồng độ 500 - 1.000 ppm đem lại tỷ lệ hom sống và tỷ lệ ra rễ cao nhất, khẳng định khả năng nhân giống vô tính của loài phục vụ công tác bảo tồn.

5. Những hoạt động nào của con người đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của loài tại địa phương?
Sự tồn vong của loài bị đe dọa chủ yếu bởi tình trạng người dân bản địa chặt phá cây lấy gỗ làm nhà, xẻ ván, đẽo vỏ thân cây làm tổn thương sinh trưởng, khai thác củi đun và hoạt động đốt nương rẫy mở rộng diện tích canh tác ngô xâm lấn trực tiếp vào sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá vôi.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Phúc đã hoàn thành mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học toàn diện về đặc tính sinh học, sinh thái, tái sinh tự nhiên và thử nghiệm nhân giống vô tính loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia) tại tỉnh Hà Giang. Công trình cung cấp hệ thống dẫn liệu có giá trị về giải phẫu lá thích nghi, tổ thành lâm phần sườn đỉnh karst và giải quyết thành công kỹ thuật giâm hom cành bằng chất kích thích sinh trưởng IBA. Các đề xuất về bổ sung danh mục bảo vệ pháp lý, khoanh nuôi tái sinh tại chỗ kết hợp nhân giống bảo tồn chuyển chỗ và giải quyết sinh kế bản địa tạo nên giải pháp hoàn chỉnh nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen cây lá kim đặc hữu này tại Việt Nam.