Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp, bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn lợn nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, ngoài ra còn cung cấp lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến. Định hướng phát triển chăn nuôi lợn đến năm 2020 là: Phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng. Hàng loạt vấn đề về quản lý, kỹ thuật chăn nuôi lợn ở nước ta đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết nhằm đưa ngành chăn nuôi ở nước ta tiến kịp trình độ trong khu vực và thế giới.
Ngoài các yếu tố như: giống, nuôi dưỡng, chăm sóc thì khâu công tác thú ý là rất quan trọng, quyết định sự thành bại của ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng. Nước ta là một nước thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều nên rất thích hợp cho dịch bệnh phát triển mạnh và lây lan nhanh, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn. Đặc biệt, các giống lợn ngoại chưa thích nghi được với điều kiện khí hậu. Một trong các bệnh thường xảy ra khá phổ biến ở lợn có “Hội chứng tiêu chảy”, bệnh làm cho lợn còi cọc, chậm lớn, tăng chi phí chăn nuôi… ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế.
n 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài với nội dung: “Nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn giai đoạn từ sau cai sữa đến 4 tháng tuổi tại trại lợn công ty C. Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội và thử nghiệm phác đồ điều trị”. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn tại trại và xác định các yếu tố ảnh hưởng. - Xác định được tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết do hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn nuôi tại cơ sở.
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị cho lợn mắc bệnh. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để đánh giá tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn tại trại Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội. - Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết và biện pháp phòng trị.
- Xác định hiệu quả của một số thuốc kháng sinh và hóa dược sử dụng trong điều trị bệnh. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin về tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn, tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết tại trại lợn Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội. Đây là cơ sở để đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh hợp lý, nhờ đó làm giảm thiệt hại kinh tế và đem lại lợi nhuận cao hơn. - Áp dụng một số phương pháp điều trị là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các phác đồ điều trị phù hợp và có hiệu quả đối với hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn, làm giảm tỷ lệ chết, giảm tỷ lệ còi cọc, nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Quá trình thành lập và phát triển của công ty CP Bình Minh 2. Quá trình thành lập Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Nguyễn Sỹ Bình nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại.Cơ sở vật chất của trang trại - Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 5400 lợn thịt: Gồm 9 chuồng, 2 chuồng chuyên úm lợn khi mới nhập về mỗi dãy chuồng có 9 ô, kích thước chuồng 63m x 15m, mỗi ô kích thước 7m x 7m, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, kho thuốc… Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió.
Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm. Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng tôn. n 4 Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng. Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan.
Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng 1. Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: - 01 chủ trại. - 03 quản lý kỹ thuật.
- 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại. - 7 công nhân và 20 sinh viên thực tập Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại. Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất lợn thương phẩm.
Hiện nay, trung bình 1 năm trại sản xuất được 2 lứa, số lợn thương phẩm bán ra hàng nghìn con. Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam. Tại trại, lợn được nhập từ sau 21 ngày tuổi và bán ra vào tuần thứ 25 đến 28. Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng lứa tuổi lợn của trại.
n 5 * Công tác thú y Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn thương phẩm luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam. - Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định. Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động.
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào. Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho tiêm phòng vắc xin đầy đủ. Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn.
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%. - Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn. Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn. Thuận lợi và khó khăn 2.
Thuận lợi Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát triển của trại. Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân. Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại. Khó khăn Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn. Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng ảnh hưởng đến công tác sản xuất. Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm tiêu hóa của lợn giai đoạn sau cai sữa Sau cai sữa, thức ăn của lợn con chuyển chủ yếu là từ sữa mẹ sang ăn cám do đó mà hệ tiêu hóa của lợn cũng có sự thay đổi để thích ứng với điều này. Lợn là loài ăn tạp, bất cứ loại thực phẩm nào dù sống hay chín đều có thể ăn được. Lợn nặng 90 - 100kg có dung tích dạ dày 5 - 6 lít và có chiều dài ruột non dài gấp 14 lần thân của nó, vì thế lợn tiêu hoá và đồng hoá thức ăn n 7 tốt.
Tuy nhiên, lợn con có bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện, nhưng tốc độ sinh trưởng cao, do đó ta cần có chế độ ăn uống thích hợp cho chúng.