CHƯƠNG I. Tổng quan chung về Đề tài. Mục tiêu của Đề tài. Nội dung nghiên cứu của đề tài.
7 CHƯƠNG II. NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC NGUỒN NLTT CÓ TIỀM NĂNG Ở VIỆT NAM. Tóm tắt hiện trạng khai thác và sử dụng NLTT ở Việt Nam. Nghiên cứu và đánh giá khả năng khai thác các nguồn NLTT.
Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL KSH. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NLMT. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL gió (NLG). Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL Địa nhiệt.
Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác NLSH. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác điện thuỷ triều. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn rác thải sinh hoạt (RTSH) cho sản xuất NL. Tổng hợp tiềm năng & khả năng khai thác các nguồn NLTT ở Việt Nam.
Các kết luận về tiềm năng và khả năng khai thác NLTT ở Việt Nam. 27 CHƯƠNG III. NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ HỖ TRỢ CỦA CÁC NƯỚC TRONG VIẸC HỖ TRỢ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NLTT. Một số cơ chế hỗ trợ đã được các nước trên thế giới áp dụng.
Về khuyến khích đầu tư. Về Khuyến khích sản xuất. Về hỗ trợ R&D. Chiến lược và chính sách phát triển NLTT ở các nước trong khu vực.
35 CHƯƠNG IV. NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾT PHÁT TRIỂN NLTT Ở VIỆT NAM. NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH CÁC RÀO CẢN. Phân tích các rào cản, khó khăn trong phát triển NLTT.
Về cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện. Về cơ sở dữ liệu, thông tin. Về trình độ áp dụng công nghệ. Về suất đầu tư, giá thành (tính kinh tế và tài chính).
Tóm tắt các rào cản chính. 53 CHƯƠNG VI. NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT CÁC CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO QUỐC GIA. Phát triển các dự án điện NLTT nối lưới.
Phát triển các dự án điện NLTT ngoài lưới. Phát triển và sử dụng nhiệt và nhiên liệu từ nguồn NLTT. Khuyến kích cho phát triển NLTT. Khuyến khích các dự án đầu tư.
Khuyến khích về tài chính. Hỗ trợ giá điện và các hợp đồng mua bán điện. Quản lý chất lượng sản phẩm. Hỗ trợ các sản xuất các thiết bị trong nước.
Các biện pháp thúc đẩy. Xây dựng Quỹ phát triển NLTT. Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển KHCN về NLTT. Xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình quốc gia về phát triển NLTT.
Nâng cao nhận thức và xây dựng nguồn nhân lực về NLTT. Quản lý nhà nước về NLTT. Mô hình quản lý. Quản lý và tổ chức thực hiện.
Nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực phát triển và sử dụng các nguồn NLTT. Kiểm tra và đánh giá. 61 CHƯƠNG VII. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
66 Tài liệu tham khảo. Tổng quan chung về Đề tài Năng lượng tái tạo (NLTT) từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng trong tổng tiêu thụ năng lượng (NL) cuối cùng ở Việt Nam (VN). Hiện tại, khoảng gần 70% dân số khu vực nông thôn vẫn còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng sinh khối (NLSK) cho đun nấu. Ngoài ra, nguồn NL này cũng được sử dụng nhiều tại các cơ sở ngành nghề thủ công nông thôn như sản xuất gạch ngói, sành sứ, chế biến nông sản, thực phẩm.
Phế thải nông nghiệp, đặc biệt là bã mía, đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất đường với công nghệ đồng phát (nhiệt và điện). Còn ở các khu vực nông thôn vùng sâu vùng xa, thuỷ điện nhỏ (TĐN), đặc biệt là loại cực nhỏ quy mô hộ gia đình cũng như các dự án cấp cộng đồng với lưới điện nhỏ đã cung cấp một lượng điện năng nhất định cho người dân khu vực miền núi. Hơn thế nữa, NL khí sinh học (KSH) với công nghệ cơ bản đã chín muồi đang hình thành một thị trường cung cầu ở vùng nông thôn. Các dạng NLTT khác như mặt trời, gió… cũng đang dần định hình để phát triển và mở rộng trong tương lai.
Sự giảm mạnh cơ cấu sử dụng NLTT mà chủ yếu là NLSK gần đây (từ 65% năm 1995 xuống còn khoảng 38% năm 2005 đã phản ánh sự chuyển đổi mạnh mẽ của của VN sang một nền kinh tế thị trường hiện đại – với giá NL thương mại thế giới rẻ, nguồn than sẵn có ở miền Bắc và những mỏ khí được tìm thấy ở miền Nam. Nhưng kỷ nguyên khai thác và sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch rẻ tiền đóng vai trò lớn trong phát triển kinh tế của nhiều nước được dự báo là sẽ bị cạn kiệt trong tương lai rất gần. Sự tăng giá dầu khó có thể dự đoán được phản ánh bởi nhu cầu của các cường quốc kinh tế đang nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil. Sắp tới, VN sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào giá NL thế giới vì sự tăng trưởng kinh tế được dự báo nhanh hơn sự tăng trưởng được đáp ứng từ các nguồn NL trong nước, tiềm năng thuỷ điện lớn sẽ được khai thác hết vào thập kỷ tới trong khi các nguồn khí và than có giới hạn, điều đó đồng nghĩa là VN sẽ sớm phải nhập khẩu than cho phát điện (dự kiến từ sau năm 2012).
Ngoài các luận cứ đơn thuần về kinh tế đó là sự tăng giá, sự cạn kiệt dần của các nguồn NL hoá thạch thì các dự án NLTT còn có các lý do khác cho phát triển, đó là: Các dự án NLTT quy mô nhỏ thường nằm ở vùng sâu vùng xa và được coi là chất xúc tác tốt cho phát triển nông thôn và tạo ra cơ hội việc làm cho khu vực này. Các hoạt động xây dựng NLTT ở những vùng sâu - vùng xa sẽ đòi hỏi phát triển giao thông và như vậy sẽ cải thiện đường vào các cộng đồng dân cư khu vực này. NLTT thay thế các nguồn NL hoá thạch do đó nó sẽ làm giảm chi phí ảnh hưởng môi trường do việc đốt than, dầu, khí. Trong khi mức độ của các ảnh hưởng này chưa xác định thì hậu quả của các phát thải do sử dụng nhiên liệu hoá thạch đối với sức khoẻ con người đã thực sự phát sinh các chi phí đối với nền kinh tế.
4 Để đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế, VN cần khai thác các nguồn than nội địa cho sản xuất điện, nhưng VN cũng là một thành viên có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường toàn cầu do vậy, VN cũng sẽ có trách nhiệm phát triển các nguồn NL sạch có sẵn của mình. Nhiều dự án NLTT sẽ bán được các chứng chỉ giảm phát thải các bon cho cộng đồng quốc tế, đây sẽ là các nguồn thu bổ sung thêm để hỗ trợ và thúc đẩy cho các dự án NLTT phát triển ở VN. NLTT sẽ có vai trò thực sự trong giai đoạn tới, bởi lẽ : (i). Sự cần thiết đa dạng hoá các nguồn NL là định hướng trong chiến lược phát triển NL của VN; và (ii).
Tác động do sự không ổn định của thị trường NL hoá thạch thế giới. Các dự án thuỷ điện nhỏ hiếm khi có những vấn đề lớn như tái định cư các hộ gia đình. Việc giữ nước để vận hành các nhà máy TĐN trong giờ cao điểm cần mặt bằng và khối lượng tích trữ rất nhỏ vì vậy, ít tạo ra những vấn đề về môi trường. Các dự án điện SK thường là sử dụng ngay các phế thải đáng nhẽ phải bỏ đi của các cơ sở chế biến (như trấu tại các cơ sở xay xát lúa, bã mía tại các nhà máy đường…) tạo ngay ra nguồn NL (cho sản xuất điện và nhiệt) không những đủ đáp ứng nhu cầu tại chỗ mà còn cung cấp lượng điện thừa đáng kể cho lưới điện địa phương hoặc các hộ tiêu thụ lân cận.
Điều này mang lại hiệu quả cao không những cho Quốc gia mà còn trực tiếp cho các cơ sở sản xuất. Sự phát triển dân sinh-kinh tế kéo theo sự tăng nhu cầu sử dụng nước nóng tại các hộ gia đình, các khách sạn, toà nhà. mà hiện nay phần lớn chúng đang được đáp ứng bởi nguồn điện lưới, đó là một trong các nguyên nhân dẫn tới nhu cầu điện tăng, đặc biệt vào giờ cao điểm, sử dụng các nguồn NLTT như mặt trời, KSH… sẽ góp phần thay thế được một lượng điện rất lớn được sản xuất từ các nguồn NL hoá thạch này. Với vị trí địa lý-khí hậu và các hoạt động nông nghiệp đã tạo cho VN có những nguồn NLTT dồi dào và đa dạng, có thể khai thác một số lượng lớn cho sản xuất NL, đáp ứng được một phần nhu cầu NL đang gia tăng mạnh cũng như bảo vệ môi trường và giảm thiểu phát thải các chất ô nhiễm.
Mặc dù, VN có tiềm năng khá lớn về các nguồn NLTT như: TĐN, SK, gió, mặt trời, địa nhiệt, NL từ biển (thuỷ triều, sóng) và các dạng nhiên liệu sinh học (NLSH) nhưng cho đến nay sự đóng góp thực sự có hiệu quả của NLTT vào sản xuất NL nói chung và sản xuất điện năng nói riêng tại VN là chưa đáng kể. Mục tiêu nâng tỷ trọng NLTT, điện tái tạo trong cân bằng NL quốc gia được coi là một triển vọng nhiều hứa hẹn và đang được các nhà lập kế hoạch, lập chính sách ngành NL Việt Nam nhắm đến. Tuy nhiên, việc phát triển NLTT đang phải đối mặt với một số trở ngại khó khăn như: 5 Về cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện: VN là một nước có tiềm năng lớn về nguồn NLTT nhưng cho đến nay số các dự án thực hiện còn rất ít, tỷ trọng điện tái tạo trong tổng lượng điện sản xuất là không đáng kể, đó là do: Thiếu chính sách đủ mạnh, đồng bộ bao gồm từ điều tra, thăm dò tiềm năng đến khai thác và sử dụng; Thiếu cơ chế tài chính hiệu quả cho việc đầu tư, quản lý và vận hành các dự án điện tái tạo tại khu vực vùng sâu, vùng xa ngoài lưới; Thiếu một cơ quan đầu mối tập trung, với chức năng đủ mạnh để điều hành. Về cơ sở dữ liệu cho quy hoạch và lập kế hoạch phát triển: Do tính đặc thù của NLTT là phân tán, phụ thuộc mùa vụ, thời tiết nên nguồn số liệu là không sẵn có.
Hiện nay, chưa có cơ quan nào được giao thu thập, cập nhật và thông kê như đã làm với các dạng NL thương mại. Hiện tại, việc đánh giá thấu đáo tiềm năng NLTT có sự dao động lớn là do thiếu cơ sở dữ liệu tin cậy.