Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu và chế tạo vật liệu nano TiO2 dạng ống ứng dụng trong cảm biến khí

Luận văn thạc sĩ phân tích vnu uet nghiên cứu và chế tạo vật liệu cấu trúc nano tio2 dạng ống ứng dụng trong cảm biến khí, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Trường đại học công nghệ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

65
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Vật liệu nano - oxit TiO2 dạng ống

1.2. Các phương pháp tổng hợp nano - oxit TiO2 dạng ống

1.2.1. Phương pháp tạo mẫu bằng khuôn

1.2.2. Phương pháp điện hóa

1.2.3. Phương pháp thủy nhiệt

1.2.3.1. Các dạng nano-oxit TiO2 ống tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt
1.2.3.2. Nhóm cấu trúc H2Ti3O7
1.2.3.3. Nhóm cấu trúc H2Ti2O4(OH)2
1.2.3.4. Các tham số thủy nhiệt ảnh hưởng lên quá trình hình thành TiO2 dạng ống

1.3. Cơ chế hình thành TiO2 dạng ống (ống titanate)

1.4. Ảnh hưởng của vật liệu ban đầu

1.5. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian thủy nhiệt

1.6. Ảnh hưởng của quá trình rửa axit

1.7. Ảnh hưởng của quá trình nung ủ mẫu

1.8. Cảm biến khí dạng độ dẫn điện

1.8.1. Cấu tạo và phân loại cảm biến

1.8.2. Cảm biến theo cơ chế độ dẫn của lớp màng nhạy khí

1.8.2.1. Lớp màng nhạy khí và nguyên lý hoạt động
1.8.2.2. Ưu nhược điểm cảm biến phụ thuộc vào độ dẫn của lớp màng nhạy khí

1.8.3. Cảm biến khí dựa trên tiếp xúc điện cực kim loại-bán dẫn (tiếp xúc Schottky)

1.8.3.1. Cấu tạo và cơ chế nhạy khí của cảm biến điốt Schottky
1.8.3.2. Ưu nhược điểm của loại cảm biến phụ thuộc vào điện trở tiếp xúc Schottky

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Tổng hợp TiO2 dạng ống

2.1.1. Phương pháp thủy nhiệt

2.1.2. Quy trình tổng hợp TiO2 dạng ống bằng phương pháp thủy nhiệt

2.2. Phương pháp phân tích cấu trúc tinh thể, hình thái học nano-oxit TiO2

2.3. Chế tạo cảm biến khí cấu hình Au/ống nano TiO2/Au

2.4. Khảo sát đặc trưng nhạy khí của cảm biến

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của các điều kiện thủy nhiệt lên sự hình thành ống nano TiO2

3.1.1. Ảnh hưởng của nồng độ NaOH

3.1.2. Ảnh hưởng thời gian thủy nhiệt

3.1.3. Ảnh hưởng của nồng độ axit HCl trong quá trình rửa

3.1.4. Ảnh hưởng của quá trình nung ủ mẫu

3.2. Kết luận công nghệ tổng hợp nano-oxit TiO2 bằng phương pháp thủy nhiệt

3.3. Khảo sát đặc trưng nhạy khí của cảm biến Au/ống nano TiO2/Au

3.3.1. Đáp ứng của cảm biến trong khí NO2

3.3.2. Đặc trưng đáp ứng theo nồng độ khí NO2 và độ lặp lại của cảm biến Au/ống nano TiO2/Au

3.3.3. Đặc trưng đáp ứng của cảm biến Au/ống nano TiO2/Au với một số khí khác

3.3.4. Giải thích cơ chế nhạy khí của cảm biến

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu vật liệu nano TiO2 dạng ống cho cảm biến khí

Vật liệu nano TiO2 dạng ống đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực cảm biến khí. TiO2, với cấu trúc tinh thể đa dạng và tính chất hóa lý đặc biệt, được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng như quang xúc tác và cảm biến khí. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu và phát triển các phương pháp tổng hợp vật liệu nano TiO2 dạng ống, từ đó nâng cao hiệu suất của cảm biến khí.

1.1. Tính chất và ứng dụng của vật liệu nano TiO2

TiO2 là một vật liệu bán dẫn với độ rộng vùng cấm lớn, có khả năng hấp phụ khí tốt. Các dạng cấu trúc như anatase và rutile của TiO2 đều có ứng dụng trong cảm biến khí nhờ vào tính chất nhạy khí cao và độ ổn định hóa học tốt.

1.2. Lịch sử nghiên cứu vật liệu nano TiO2

Nghiên cứu về TiO2 bắt đầu từ những năm 1970, với nhiều ứng dụng được phát triển qua các thập kỷ. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng TiO2 dạng ống có nhiều ưu điểm vượt trội so với các dạng khác, đặc biệt trong lĩnh vực cảm biến khí.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu vật liệu nano TiO2

Mặc dù TiO2 dạng ống có nhiều ưu điểm, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong quá trình tổng hợp và ứng dụng. Các vấn đề như độ đồng đều của vật liệu, khả năng nhạy khí và độ chọn lọc vẫn cần được giải quyết.

2.1. Độ đồng đều và kích thước hạt

Độ đồng đều của vật liệu nano TiO2 là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất của cảm biến khí. Kích thước hạt không đồng đều có thể dẫn đến sự biến đổi trong tính chất nhạy khí.

2.2. Khả năng nhạy khí và độ chọn lọc

Khả năng nhạy khí của cảm biến TiO2 phụ thuộc vào cấu trúc và hình thái của vật liệu. Việc cải thiện độ chọn lọc cho các loại khí cụ thể là một thách thức lớn trong nghiên cứu.

III. Phương pháp tổng hợp vật liệu nano TiO2 dạng ống hiệu quả

Có nhiều phương pháp tổng hợp vật liệu nano TiO2 dạng ống, trong đó phương pháp thủy nhiệt được sử dụng phổ biến nhất. Phương pháp này cho phép kiểm soát hình dạng và kích thước của vật liệu một cách hiệu quả.

3.1. Phương pháp thủy nhiệt

Phương pháp thủy nhiệt cho phép tổng hợp TiO2 dạng ống ở nhiệt độ thấp, giúp duy trì tính chất hóa học của vật liệu. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều kiện thủy nhiệt ảnh hưởng lớn đến kích thước và hình dạng của ống nano TiO2.

3.2. Phương pháp điện hóa

Phương pháp điện hóa cũng được áp dụng để tổng hợp TiO2 dạng ống. Phương pháp này có ưu điểm là tạo ra vật liệu với cấu trúc đồng nhất và khả năng nhạy khí cao.

IV. Ứng dụng thực tiễn của vật liệu nano TiO2 trong cảm biến khí

Vật liệu nano TiO2 dạng ống đã được ứng dụng trong nhiều loại cảm biến khí, đặc biệt là trong việc phát hiện các khí độc hại như NO2 và H2. Các cảm biến này cho thấy độ nhạy cao và thời gian hồi đáp nhanh.

4.1. Cảm biến khí NO2

Cảm biến khí NO2 dựa trên vật liệu nano TiO2 dạng ống cho thấy khả năng phát hiện khí ở nồng độ thấp, với độ nhạy cao và độ ổn định tốt trong môi trường khắc nghiệt.

4.2. Cảm biến khí H2

Cảm biến khí H2 sử dụng TiO2 dạng ống cũng đã được nghiên cứu và phát triển, cho thấy khả năng phát hiện nhanh chóng và chính xác trong các ứng dụng công nghiệp.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tương lai cho vật liệu nano TiO2

Nghiên cứu về vật liệu nano TiO2 dạng ống vẫn đang tiếp tục phát triển, với nhiều tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực cảm biến khí. Hướng nghiên cứu tương lai sẽ tập trung vào việc cải thiện độ nhạy và độ chọn lọc của cảm biến.

5.1. Cải thiện tính chất nhạy khí

Nghiên cứu sẽ tiếp tục tìm kiếm các phương pháp mới để cải thiện tính chất nhạy khí của vật liệu nano TiO2, nhằm nâng cao hiệu suất của cảm biến.

5.2. Nghiên cứu ứng dụng mới

Ngoài cảm biến khí, vật liệu nano TiO2 dạng ống còn có thể được nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực khác như quang xúc tác và năng lượng tái tạo.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu uet nghiên cứu và chế tạo vật liệu cấu trúc nano tio2 dạng ống ứng dụng trong cảm biến khí

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan Chƣơng 2: Thực nghiệm Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vật liệu nano - oxit TiO2 dạng ống 1. Giới thiệu TiO2 là vật liệu thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong những năm gần đây (hơn 40.000 bài báo trong 10 năm) bởi nó thể hiện những tính chất quý báu [61]. Từ năm 1972, Fujishima and Honda đã tách nƣớc trên điện cực TiO2 [3].

Bên cạnh đó, Gerischer Tributsch [29], Dare-Edwards [47] và Gr-tzel [9] đã nghiên cứu vật liệu này cho chuyển đổi năng lƣợng mặt trời vào những năm 1980 và 1990. Khoảng 20 năm sau thì TiO2 đƣợc nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực nhƣ: pin mặt trời, quang xúc tác, tách hydro hoặc oxy từ nƣớc, cảm biến khí, thiết bị quang điện tử, v. TiO2 có thể là bán dẫn loại n hoặc p và có ba pha tinh thể khác nhau: anatase, rutile và brookite. Ngoài ra, một số dạng biến thể của oxit Titan đƣợc tạo bởi quá trình thủy nhiệt đó chính là titanate.

Bán dẫn TiO2 có độ rộng vùng cấm lớn Eg ≈ 3eV và với độ rộng vùng cấm lớn nên TiO2 thích hợp để ứng dụng trong lĩnh vực pin mặt trời, quang xúc tác hoặc cảm biến khí [61]. Cấu trúc tinh thể titanate, anatase, rutile và brokite đƣợc mô tả nhƣ dƣới hình 1.1: Cấu trúc tinh thể của titanate (a); anatase (b); rutile (c) và brokite (d) [84]. Cấu trúc tinh thể anatase, rutile và broktie đƣợc tạo nên từ các đa diện “TiO6” có cấu trúc theo kiểu bát diện (octahedral) nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxy chung, các đa diện phối trí này sắp xếp khác nhau trong không gian. Mỗi ion Ti4+ đƣợc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O2- nhƣ chỉ ra dƣới hình 1.

Anatase và rutile thuộc hệ tinh thể tứ giác (tetragonal), broktie thuộc hệ tinh thể lập phƣơng (orthorhombic). Trong tinh thể anatase, các đa diện phối trí 8 mặt bị biến dạng mạnh hơn so với rutile, khoảng cách Ti-Ti ngắn hơn, và khoảng cách Ti-O dài hơn [84].2: Cấu trúc H2Ti3O7 titanate [72] và cấu trúc đa diện “TiO6”. Ngoài ra, cũng tạo bởi các đa diện tám mặt “TiO6”, cấu trúc tinh thể titanate gồm những chuỗi đa diện sắp xếp và nối với nhau qua các cạnh trong một mặt phẳng (010) trong mạng titanate (Hình 1. Với sắp xếp không gian 1 chiều, sự thiếu hụt ion O2- ở các đỉnh cấu trúc đa diện dẫn đến hình thành những dạng biến thể titan nhƣ H2Ti3O7, H2Ti2O4 (OH)2, v.

đƣợc minh họa trên hình 1. Ngƣợc lại, cấu trúc tinh thể anatase lại đƣợc sắp xếp trong mặt phẳng (100) (Hình 1. Cả hai dạng cấu trúc titanate và anatase đều xảy ra sự biến dạng mạnh trong cấu trúc tinh thể nên thƣờng đƣợc nghiên cứu phổ biến. Trong lĩnh vực cảm biến khí, tinh thể TiO2 anatase và titanate đều có khả năng hấp phụ khí, có thể hoạt động ở nhiệt độ cao, độ ổn định hóa học tốt và không độc hại.

Những tính chất trên thuận lợi cho việc thiết kế cảm biến độ dẫn, thiết bị đo nồng độ khí ở điều kiện môi trƣờng khắc nghiệt. Trong đó, ngƣời ta đều tìm cách tăng tối đa diện tích bề mặt của vật liệu để cải thiện một số tính chất nhƣ: khả năng xúc tác, hấp phụ khí, độ linh động của điện tử, v. Từ đó, việc giảm kích thƣớc hạt nano hoặc tổng hợp vật liệu có dạng đặc biệt nhƣ: dạng ống, dạng thanh, dạng sợi, dạng cầu, v. đƣợc quan tâm nghiên cứu rộng rãi.

Nano-oxit TiO2 dạng ống đƣợc cho là vật liệu có diện tích bề mặt lớn, độ linh động điện tử cao, định hƣớng ƣu tiên một chiều và ít sai hỏng trong mạng tinh thể [8,18,27,28]. Đặc biệt, khi TiO2 dạng ống khi đƣợc chiếu ánh sáng UV thì điện tử và lỗ trống hoạt động mạnh do vậy mà TiO2 dạng ống đƣợc ứng dụng rất nhiều trong xúc tác quang hóa [34,45,78]. Nano-oxit TiO2 dạng ống đƣợc tổng hợp bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣ: sol - gel, điện hóa, phun phủ điện tử, phƣơng pháp hỗ trợ của khuôn, thủy nhiệt, v. Trong đó, phƣơng pháp điện hóa và thủy nhiệt đƣợc sử dụng nhiều trong tổng hợp TiO2 dạng ống.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Cụ thể, Kasuga cùng đồng nghiệp lần đầu tiên đã tổng hợp thành công TiO2 dạng ống (cấu trúc titanate) với đƣờng kính trong và ngoài tƣơng ứng là 5 - 7 nm; 7 - 9 nm bằng phƣơng pháp thủy nhiệt ở nhiệt độ thấp [73,74]. Từ đó trở đi, các nhà nghiên cứu đã đi sâu việc tìm hiểu cơ chế hình thành TiO2 dạng ống bằng những phƣơng pháp khác nhau. Nhóm nghiên cứu của Tohru Sekino [72] đã tổng hợp TiO2 dạng ống bằng phƣơng pháp thủy nhiệt gồm những lớp đơn (Ti3O7)2- cuộn thành dạng ống dƣới ảnh hƣởng của sự thay thế proton H+ cho Na+ với cấu trúc đa tƣờng ứng dụng cho quang xúc tác. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu Patrik Schmuki [61] cũng nghiên cứu toàn bộ cơ chế hình thành TiO2 dạng ống với chiều dài cỡ µm bằng phƣơng pháp điện hóa ứng dụng cho pin mặt trời.

Nhƣ vậy, tùy theo mục đích ứng dụng TiO2 dạng ống cho cảm biến khí, quang xúc tác, tách hydro hoặc oxy từ nƣớc, v. đòi hỏi lựa chọn phƣơng pháp tổng hợp vật liệu sao cho phù hợp. Từ đó, vật liệu TiO2 thu đƣợc có ƣu điểm về cấu trúc tinh thể, liên kết hóa học, tính chất hóa/lý, khả năng điều khiển đƣợc chiều dài, hình dạng ống cũng nhƣ độ đồng đều ống và tổng hợp với quy mô lớn đang đƣợc đi sâu nghiên cứu. Các phƣơng pháp tổng hợp nano - oxit TiO2 dạng ống Những năm gần đây, những phƣơng pháp tổng hợp TiO2 chủ yếu là: phƣơng pháp có sự hỗ trợ của khuôn, phƣơng pháp điện hóa và phƣơng pháp thủy nhiệt.

Dƣới đây là bảng 1.1 so sánh những thuận lợi và không thuận lợi của ba phƣơng pháp [6].1: So sánh các phương pháp tổng hợp nano-oxit TiO2 dạng ống [6]. Phƣơng pháp tổng Ƣu điểm Nhƣợc điểm hợp Sử dụng khuôn mẫu - Kích thƣớc của ống có thể - Các ống nano thu đƣợc có đƣợc điều khiển bằng kích cỡ đƣờng kính lớn. của khuôn mẫu. - Chuẩn bị và tháo gỡ khuôn - Các ống nano TiO2 tổng hợp mẫu mất nhiều thời gian.

đƣợc có độ đồng đều cao. - Lẫn tạp nếu khuôn mẫu bị hủy. Điện hóa - Kích thƣớc của ống có thể - Ống nano thu đƣợc ở dạng đƣợc điểu khiển bằng điện áp, vô định hình. chất điện ly, pH và thời gian anode hóa.

- Ống nano có thể bị gãy, hủy cấu trúc ở nhiệt độ cao - Ống nano thu đƣợc có độ đồng đều, sắp xếp thẳng hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thủy nhiệt - Ống nano thu đƣợc với độ - Thời gian thủy nhiệt khá sạch và độ kết tinh cao. - Kích thƣớc ống có thể đƣợc - Ống nano thu đƣợc ở dạng điều khiển bằng thời gian, hỗn độn. nhiệt độ thủy nhiệt.

- Thực nghiệm đơn giản 1. Phương pháp tạo mẫu bằng khuôn Trong phƣơng pháp tạo ống nano bằng khuôn đƣợc chia thành 2 loại: Khuôn ngoài (Positive Template) và khuôn trong (Negative Template) [6]. Với khuôn ngoài thì oxit đƣợc phủ lên bề mặt ngoài của khuôn, còn với khuôn trong thì oxit đƣợc phủ bên trong lỗ khuôn. Khuôn ngoài (Positive Template): TiO2 dạng ống đƣợc tổng hợp đầu tiên bởi Hoyer [57], AAO là khuôn ban đầu để hình thành nên khuôn polymer, oxit TiO2 đƣợc phủ lên khuôn.

Từ đó, TiO2 dạng ống vô định hình lắng đọng điện hóa lên những khuôn polymer và sau đó đƣợc bóc tách bằng acetone. Hoyer đã thu đƣợc TiO2 dạng ống với chiều dài 8 µm, đƣờng kính trong và ngoài tƣơng ứng của ống TiO2 là 70 ÷ 100 nm; 140 ÷ 180 nm. Xuất hiện pha anatase sau khi nung ống nano TiO2 dạng vô định hình ở nhiệt độ 450 oC. Cùng với đó, Qiu cùng đồng nghiệp [38] cũng tổng hợp TiO2 dạng ống bằng phƣơng pháp sử dụng khuôn ZnO dạng thanh trên đế kính.

TiO2 sol đƣợc lắng đọng lên khuôn ZnO dạng thanh và hình thành dạng ống. Sau khi tách khuôn ra, TiO2 dạng ống thu đƣợc có chiều dài 1.5 µm, đƣờng kính trong của ống là 100 ÷ 120 nm, độ dày tƣờng ống là 10 nm. Tuy nhiên với phƣơng pháp này TiO2 dạng ống thu đƣợc lại không đồng đều về chiều dài nên ngƣời ta đƣa ra khuôn trong (Negative Template). Khuôn trong (Negative Template): Sử dụng khuôn trong thì ống nano thu đƣợc có sự đồng đều về chiều dài và đƣờng kính ống.

Kết hợp sol - gel và khuôn trong AAO thì Zhang cùng đồng nghiệp [49] đã tổng hợp thành công TiO2 dạng ống với đƣờng kính khoảng 200 nm và chiều dài 8 µm với chiều dày tƣờng ống phụ thuộc vào nồng độ acetylacetone trong dung dịch TiO2 sol. Cùng với đó, Li cùng đồng nghiệp [77] đã tổng hợp TiO2 anatase dạng ống bằng phƣơng pháp khuôn AAO kết hợp với phƣơng pháp sol - gel. Khuôn AAO đƣợc nhúng trong sol TiO2 trong 2 phút, sau đó khuôn đƣợc đặt trong chân không để sol đƣợc kéo dài. Khuôn đƣợc làm khô trong không khí trong 30 phút ở nhiệt độ phòng và nung ủ ở 400 oC trong 6 h và làm lạnh xuống nhiệt độ phòng.

TiO2 dạng ống thu đƣợc với độ dày tƣờng ống 10 nm, đƣờng kính ngoài 100 nm và chiều dài ống 600 µm sau khi AAO bị hòa tan trong dung dịch NaOH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tuy nhiên thì ống nano TiO2 tổng hợp bằng hai phƣơng pháp khuôn này lại có nhƣợc điểm là ống nano thu đƣợc có kích thƣớc lớn do phụ thuộc vào kích thƣớc lỗ khuôn. Hơn nữa, thời gian để chuẩn bị khuôn và tách khuôn khỏi mẫu khá dài và lẫn tạp do sử dụng phƣơng pháp hóa học. Phương pháp điện hóa TiO2 dạng ống với độ đồng đều cao và sắp xếp thẳng hàng thu đƣợc bằng phƣơng pháp điện hóa.

Trong đó, đƣờng kính ống, chiều dài ống đƣợc điều khiển bằng điện áp cấp vào, chất điện ly, pH và thời gian điện hóa [6].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ