Đặt vấn đề nghiên cứu Ngoài những ứng dụng của vật liệu composite như đã đề cập ở mục 1.1 thì mô hình tấm composite trên nền có độ cứng biến thiên chịu tải trọng động được ứng dụng rất nhiều trong thực tiễn hiện nay như: nền móng tầng hầm của tòa nhà, nền đường sân bay, nền đường cao tốc. Vì vậy, đây là vấn đề cần nhận được sự quan tâm nghiên cứu ở trên thế giới. Trong luận văn này, phương pháp phần tử chuyển động (Moving Element Method-MEM) thể hiện ở Hình 1.4 sẽ được sử dụng để phân tích ứng xử của tấm composite đa lớp dưới tác dụng của tải trọng di động trên nền có độ cứng biến thiên lượng giác dựa vào lý thuyết tấm dày. Tính cấp thiết của đề tài 1.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước Kể từ khi ngành khoa học về vật liệu composite ra đời thì đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để ứng dụng loại vật liệu này trong xây dựng dựa trên mô hình phần tử dầm, tấm hay vỏ. Đặc biệt là những nghiên cứu về ứng xử của tấm composite trên nền có độ cứng biến thiên chịu tải trọng động thường được ứng dụng rộng rãi trong ngành xây dựng dân dụng và cầu đường như: tính toán kết cấu móng Tổng quan 6 của các tòa nhà, thiết kế, tính toán kết cấu áo đường của đường giao thông hay sân bay,. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của chủ đề này có thể tóm tắt như sau: Vấn đề phân tích ứng xử của kết cấu tấm trên nền đàn hồi và đàn nhớt chịu tải trọng di động luôn được quan tâm và nghiên cứu trên thế giới trong những thập kỷ gần đây. Thompson (1963) đã nghiên cứu ứng xử của kết cấu đường chịu tải trọng di chuyển bằng cách giả định đường là tấm mỏng dài vô hạn tựa trên nền đàn hồi.
Wu et al. (1987) đã sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn để phân tích đáp ứng của tấm phẳng chịu tải trọng di chuyển. Zaman et al. (1991) đã sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn bốn nút để phân tích đáp ứng động của tấm dày trên nền đàn nhớt (viscoelastic foundation) chịu tải trọng di chuyển.
Gbadeyan và Oni (1992) đã sử dụng biến đổi Fourier để phân tích tấm chữ nhật tựa trên nền đàn hồi Pasternak chịu một khối lượng tập trung bất kỳ di chuyển. Pan và Atluri (1995) đã phân tích đáp ứng của đường băng có kích thước hữu hạn trên nền đàn hồi chịu tải trọng di chuyển bằng phương pháp FEM/BEM kết hợp. Ngoài ra, Kim và Roesset (1998) đã nghiên cứu tấm vô hạn tựa trên nền đàn hồi Winkler chịu tải trọng di chuyển sử dụng phép biến đổi Fourier. Sun (2003) đã thành lập một phép biến đổi Fourier để giải bài toán đáp ứng động tấm Kirchhoff trên nền đàn nhớt chịu tải dao động điều hòa.
Bên cạnh đó, ngoài tấm đẳng hướng thì tấm composite trên các loại nền cũng được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Makhecha et al. (2001) đã phân tích ứng xử động của tấm composite laminate đối với các tải trọng cơ nhiệt sử dụng phần tử tứ giác tám nút. Phân tích phi tuyến của tấm composite trên nền đàn hồi cũng đã được nghiên cứu trong của các nhà khoa học trên thế giới (Chien và Chen, 2006; Huang and Zheng, 2003; Lal et al., 2008; Pirbodaghi et al.
Ngoài ra, Lee và Yhim (2004) đã kết nối phương pháp phần tử hữu hạn và lý thuyết biến dạng cắt bậc 3 (the third order shear deformation theory) để phân tích đáp ứng động của tấm composite chịu nhiều tải di chuyển. Malekzadeh et al. (2010) và Zenkour et al. (2013) đã nghiên cứu lời giải giải tích cho tấm nhiều lớp trên nền đàn hồi chịu tải cơ nhiệt.
Vosoughi et al. Để giải quyết những khó khăn của các phương pháp truyền thống gặp phải trong các bài toán phân tích ứng xử động của kết cấu dài vô hạn chịu tải trọng di động, thì hiện nay phương pháp phần tử chuyển động (Moving Element Method- MEM) đang là hướng nghiên cứu mới được rất nhiều nhà khoa học quan tâm. Người đi tiên phong của phương pháp này là Koh et al. (2003) đã đề xuất sử dụng phương pháp phần tử chuyển động trong việc khảo sát ứng xử động của tàu cao tốc.
Mô hình của Koh et al. (2003) đã giải quyết những khó khăn của phương pháp FEM như tải sẽ không bao giờ chạy tới biên hữu hạn của phần tử do phần tử luôn chuyển động, tránh phải cập nhật véctơ tải trọng khi vị trí của tải trọng thay đổi và cho phép các phần tử hữu hạn có kích thước không bằng nhau. Nghiên cứu này đã cho thấy phương pháp MEM là phương pháp thích hợp nhất để phân tích bài toán động học cho các kết cấu dài vô hạn chịu tải trọng di động. Sau khi được ứng dụng thì phương pháp MEM càng tỏ ra hữu dụng và ngày càng được phát triển.
Koh et al. (2007) đã phát triển phương pháp phần tử chuyển động để phân tích ứng xử động của nền bán không gian đàn hồi dưới tác dụng của tải trọng di động. Xu et al. (2009) sử dụng phương pháp phần tử chuyển động để phân tích ứng xử động của tấm Kirchhoff trên nền Kelvin chịu tải trọng di động sử dụng phần tử tứ giác.
Ang et al. (2013) đã khảo sát ứng xử động của tàu cao tốc khi tàu chuyển động với vận tốc thay đổi, có xét trường hợp tăng tốc và giảm tốc. Ang et al. (2014) đã sử dụng phương pháp phần tử chuyển động để phân tích dao động ngẫu nhiên của đường sắt cao tốc.
Tran et al. (2014) sử dụng phương pháp phần tử chuyển động để phân tích động lực học của đường sắt cao tốc với vận tốc thay đổi. Tran et al. (2016) đã phân tích động lực học của tàu cao tốc có xét trường hợp phanh hãm sử dụng phương pháp phần tử chuyển động.
Tran et al. (2016a) đã phân tích phản ứng động lực học của đường sắt cao tốc khi phanh đột ngột sử dụng phương pháp phần tử chuyển động. Tran et al. (2016b) sử dụng phương pháp phần tử chuyển động để phân tích động lực học của tàu cao tốc khi giảm tốc đột ngột.
Tran (2016) đã phân tích ứng xử Tổng quan 8 động lực học của tàu cao tốc với vận tốc thay đổi. Nghiên cứu này đã sử dụng phần tử chuyển động để phân tích. Tình hình nghiên cứu trong nước Việc nghiên cứu kết cấu sử dụng vật liệu composite đã dần trở thành một trong những đề tài được nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam quan tâm, trong đó một số bài báo và nghiên cứu điển hình có thể kể đến như sau: Hồ Hữu Huy và Trần Minh Hổ (2011) đã nghiên cứu khả năng bọc composite cho kết cấu thép cacbon làm việc trong môi trường biển. Nguyễn Tấn Dũng et al.
(2011) đã nghiên cứu giải pháp gia cường dầm bê tông cốt thép bằng tấm vật liệu composite sợi cacbon. Nguyễn Xuân et al. (2012) tập trung vào các phương pháp số cho phân tích tấm chức năng sử dụng lý thuyết tấm Reissner-Mindlin, trong đó hệ số hiệu chỉnh cắt của tấm đồng nhất đã được sử dụng. Tran et al.
Đối với các bài toán về kết cấu tấm chịu tải trọng di động trên nền đàn nhớt và đàn hồi thì có một vài nghiên cứu có thể kể đến như: Khổng Trọng Toàn et al. (1999) phân tích dao động của tấm trên nền đàn hồi chịu tải trọng chuyển động. Nghiên cứu này bước đầu đã lựa chọn mô hình cụ thể để mô phỏng bài toán thực tế và thiết lập được các ma trận cơ bản trong phương trình vi phân chuyển động của tấm trên nền đàn hồi, bao gồm ma trận độ cứng và ma trận khối lượng; để nâng cao độ chính xác của mô hình thì biến dạng cắt của tấm đã được xét đến theo lý thuyết tấm Mindlin. Gần đây nhất Lê Xuân Đoan et al.
(2015) đã phân tích chuyển vị của tấm composite lớp trên nền đàn hồi chịu tải trọng di chuyển bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Bằng phương pháp phần tử hữu hạn nghiên cứu đã giải bài toán của tấm composite trên nền đàn hồi chịu tác dụng của tải di chuyển, nghiên cứu phương pháp giải bài toán cho các trường hợp tĩnh và động. Qua những nghiên cứu trên cho thấy phương pháp phần tử hữu hạn thường được sử dụng để phân tích bài toán ứng xử tĩnh và động của tấm. Tổng quan 9 Về phương pháp phần tử chuyển động (Moving Element Method-MEM), các nhà khoa học trong nước cũng dần ứng dụng để thực hiện một số nghiên cứu sau: Đinh Hà Duy (2013) phân tích ứng xử động tàu cao tốc có xét đến độ cong thanh ray và tương tác đất nền.
Lương Văn Hải et al. (2013) phân tích ứng xử tàu cao tốc có xét đến độ cong thanh ray và tương tác với đất nền sử dụng phương pháp phần tử chuyển động trong việc khảo sát ứng xử động của tàu cao tốc. Võ Hoàng Nhi (2014) đã phân tích ứng xử của tấm với mô hình tấm dày Mindlin trên nền đàn nhớt sử dụng phương pháp MEM, đây là nghiên cứu mới hơn do hầu hết các nghiên cứu trước đây về phương pháp MEM chỉ mới được ứng dụng để phân tích động lực học tàu cao tốc, bài toán về dầm chịu tải trọng động chứ không sử dụng cho bài toán tấm chịu tải trọng động. Phạm Hùng (2014) đã phân tích ứng xử tấm composite laminate chịu tác dụng các loại tải trọng sử dụng phần tử 2-D chuyển động.
Nghiên cứu này phân tích ứng xử tấm composite laminate chịu tác dụng các loại tải trọng trên nền đàn nhớt sử dụng lý thuyết biến dạng cắt bậc nhất cho tấm dày. Phương pháp phần tử chuyển động MEM (Moving Element Method) được ứng dụng và phát triển để phân tích bài toán tấm chịu các loại tải trọng tĩnh và động. Nguyễn Cửu Nhất Anh (2015) đã phân tích tấm FGM chịu tải trong di động sử dụng phần tử chuyển động 2-D trên nền đàn nhớt. Nghiên cứu này tập trung phân tích ứng xử động của kết cấu tấm FGM theo mô hình tấm dày Reissner-Mindlin sử dụng phương pháp phần tử chuyển động MEM (Moving Element Method).
Nguyễn Hoàng Thế (2015) đã phân tích động lực học tấm trên nền có độ cứng biến thiên chịu tải trọng di động sử dụng phương pháp phần tử chuyển động. Gần đây nhất là Cao Tấn Ngọc Thân et al. (2015) đã phân tích ứng xử động của tấm Mindlin trên nền Pasternak chịu tải trọng di động sử dụng phương pháp phần tử chuyển động. Theo phương pháp này, tấm sẽ được chia nhỏ thành những “phần tử chuyển động”.