MỞ ĐẦU 1. Ngày nay, với xu hƣớng phát triển về cơ sở hạ tầng tăng nhanh cũng nhƣ bảo vệ, ngăn sự xâm nhập của nƣớc, sạt lở ở các tỉnh thành trong cả nƣớc, đặc biệt nhu cầu ngày càng tăng nhanh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Với cấu tạo địa chất là đất yếu (đất mùn, đất phù sa), có nơi dày đến 10 ÷ 20m. Vì vậy để đáp ứng nhu cầu cho ngành xây dựng trong thời gian gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu đƣợc thực hiện thành công trên vùng đất này.
Riêng đối với công trình cần đắp cao và nạo sâu (mƣơng, kênh, kè) trên đất yếu thì vấn đề sạt lở, sập, trƣợt mái dốc gây không ít khó khăn cho việc xây dựng, vận hành cũng nhƣ sử dụng (Vũ Văn Hà, 2015). Có rất nhiều giải pháp xử lý vấn đề này nhƣ sử dụng cừ tràm, cọc tre, túi đá, cừ thép, cọc bê tông, cọc bê tông cốt thép v.v… Mỗi loại phƣơng pháp gia cƣờng đều có ƣu nhƣợc điểm riêng nhƣng trong phạm vị chuyên đề "Nghiên cứu ứng xử cọc BTCT gia cƣờng bờ kè bờ sông đồng bằng sông Cửu Long” nhằm mục đích phân tích tìm giải pháp tối ƣu cho việc sử dụng cọc BTCT phù hợp với địa chất yếu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1.1 Khái niệm công trình bảo vệ bờ sông Công trình bảo vệ bờ sông là dạng công trình áp dụng tại những nơi cần chống sạt lở, không làm ảnh hƣởng đến lòng dẫn. Công trình này làm tăng khả năng chống xói lở hai bên bờ, không ảnh hƣởng đến đặc trƣng và kết cấu dòng chảy. Loại này chịu tác động chủ yếu là từ các dòng chảy trong sông, đặc biệt là về mùa lũ.
Các công trình bảo vệ bờ sông đƣợc xây dựng để bảo vệ bờ khỏi bị xói lở, biến dạng do dòng chảy mặt, và để lái dòng chảy mặt hay dòng bùn cát đi theo những hƣớng xác định theo mục đích thiết kế. Công trình bảo vệ bờ sông nhằm bảo vệ các điều kiện làm việc có lợi của một con sông, bảo vệ bờ chống xói lở, bảo vệ dân cƣ và các khu vực kinh tế văn hóa hai bên bờ sông.2 Nguyên nhân gây sạt lở bờ sông. - Do khai thác cát: Khai thác cát không chỉ gây sạt lở tại chỗ mà tác động dây chuyền kéo dài đến cả trăm cây số về phía hạ du, không chỉ trên dòng chính mà cả dòng nhánh. Khai thác cát làm thay đổi địa hình đáy sông, gây thay đổi dòng chảy, đặc biệt tình trạng mất cân bằng phù sa đáy, khiến tình trạng sạt lở chẳng những diễn ra phổ biến mà còn khiến tình trạng xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng (https://tuoitre.vn/khai-thac-cat-qua-muc-la-nguyen-nhan-sat-lo-bo-song- 1195189.
- Tan rã mái dốc khi thủy triều lên: những biến đổi do khí hậu và thời tiết trong đó mực nƣớc biển tăng với độ lớn từ 50 đến 100 cm/100 năm dẫn đến sự gia tăng của các đặc trƣng thủy động lực vƣợt thiết kế gây ra tràn nƣớc qua đê phá hỏng lớp bảo vệ, xói thân đê, phá hoại từng phần tiến tới phá hỏng cả đoạn đê biển. Cũng do điều kiện thủy động lực lớn hơn làm vận tốc dòng chảy do sóng và thủy triều gia tăng gây xói và hạ thấp bãi, phá hỏng các kết cấu bảo vệ chân, gây sạt trƣợt mái và thân đê. - Do hố xói: ở các hệ thống sông mà ở thƣợng nguồn chịu tác động mạnh bởi dòng chảy của lũ, có vận tốc khá lớn, đặc biệt là tại khu vực bờ lõm hoặc khúc sông cong, dòng xoáy, dòng chảy mạnh tạo nên các “hố xói” sâu trong lòng dẫn. Khi “hố xói” sâu này phát triển, tiến đến gần bờ thì dễ dàng tạo nên các hàm ếch.
Hoạt động “hố xói” gây trƣợt lở lớn từng mảng đất bờ (http://danviet.vn/tin-tuc/sat-lo-song- vam-nao-hiem-nguy-ho-xoi-765115. - Do cấu tạo vùng bờ: Một số vùng bờ có thành tạo trầm tích phù sa cổ khi đƣợc lớp thảm thực vật phủ dày, trong điều kiện môi trƣờng ẩm ƣớt cao thì độ dẻo và độ kết dính tốt, còn những nơi thảm thực vật thƣa thớt hoặc không có thảm thực vật che phủ, khi bị phơi nắng thiếu nƣớc thƣờng xuyên, chúng mất nƣớc dần, co rút lại, hậu quả là bị nứt nẻ, trở nên khô xốp và khi thấm nƣớc trở lại chúng bị bở rời, tơi vụn ra. Khi đó chỉ cần động lực rất nhỏ (song, gió), chúng đã bị nƣớc làm dịch chuyển và mang đi. Đây là một điều kiện thuận lợi để quá trình xói lở bờ trong vùng diễn ra mạnh mẽ (Nguyễn Văn Ngọc, 2013).
2 Luan van - Do sóng: Sóng có thể do gió hay do tàu thuyền đi lại trên sông gây ra, sóng vỗ vào bờ tạo áp lực, tạo dòng chảy ven bờ gây sạt lở, sóng do gió gây ra sạt lở bờ thƣờng xảy ra ở các vùng cửa sông, nơi có đà gió dài (Mai Xuân Chính, 2014). - Do dòng chảy: Khi dòng chảy có vận tốc lớn hơn vận tốc khởi động bùn cát của lòng dẫn sẽ làm cho lòng dẫn bị đào xói, khối đất phản áp của mái bờ bị suy giảm dần. Đến một thời gian nhất định mái bờ sẽ bị mất ổn định và sạt lở sẽ xảy ra. Xói lở dạng này thƣờng xảy ra vào thời gian đầu mùa mƣa, thời điểm mực nƣớc kiệt.
Các đợt sạt lở xảy ra ngắt quãng và có chu kỳ dài hơn so với dạng sạt lở do sóng thuyền bè gây ra. Tuy nhiên khối đất mỗi một đợt sạt lở thƣờng lớn hơn và nguy hiểm hơn (Mai Xuân Chính, 2014). - Sạt lở: do sự tăng thêm áp lực trong các giai đoạn ( thƣờng tăng thêm áp lực nƣớc, lực rung động.) làm cho đất đá di chuyển rời xa khỏi chỗ bị gián đoạn gây sụt lở (Mai Xuân Chính, 2014). Sạt lở do áp lực nƣớc làm hở hàm ếch bờ (Mai Xuân Chính, 2014) - Trƣợt dòng: do bản thân đất trong khối trƣợt bị xáo động dẫn đến chuyển một phần hay toàn bộ nhƣ một khối chất lỏng, mặt trƣợt hầu nhƣ không có hoặc chỉ biểu hiện từng lúc; thƣờng xảy ra trong đất yếu bão hòa nƣớc do áp lực nƣớc lỗ rỗng tăng lên đến một giới hạn làm mất toàn bộ cƣờng độ chống cắt của đất (Mai Xuân Chính, 2014).
3 Luan van Hình 1. Mất ổn định dạng trƣợt dòng (Mai Xuân Chính, 2014) - Trƣợt do khối đất bị phá hoại cắt dọc theo một mặt làm khối đất bị dịch chuyển trƣợt theo mặt phá hoại đó. Có hai dạng mất ổn định là trƣợt phẳng và trƣợt cong. Mất ổn định theo mặt trƣợt cong (Mai Xuân Chính, 2014) 1.2 Tổng quan các hình thức công trình (quy mô, vật liệu) bảo vệ bờ kè.1 Tổng quan về quy mô công trình bảo vệ bờ kè (Lê Hồng Quân, 2013).1 Công trình dân gian, thô sơ.
Công trình loại dân gian, thô sơ là những công trình có quy mô nhỏ, đƣợc xây dựng tại các vị trí sông, kênh, rạch bị xói lở bờ, có độ sâu không lớn, tốc độ dòng chảy nhỏ. Công trình chủ yếu đƣợc xây dựng bằng các loại vật liệu sẵn có ở 4 Luan van địa phƣơng, do ngƣời dân tự làm để bảo vệ nhà cửa, giữ đất, ruộng vƣờn. Kinh phí xây dựng công trình thƣờng là thấp. Công trình thô sơ có 3 dạng, dạng thứ nhất là công trình trồng cây, cỏ chống xói, chống sóng bảo vệ bờ.
Loại thứ hai là các công trình sử dụng cọc gỗ, tre, cừ tràm. Loại thứ 3 là dùng bao tải cát, xà bần, đá hộc kết hợp với cọc, cừ gỗ bảo vệ bờ. Phạm vi áp dụng loại công trình dân gian, thô sơ đƣợc ứng dụng rộng rãi dọc theo hệ thống sông ở đồng bằng sông Cửu Long. Các dạng cây này đƣợc trồng nhiều ở các vùng cửa sông, trong các sông, kênh rạch nhỏ, cồn (cù lao), bãi dọc các cửa sông Cửu Long, sông Cửu Lớn, Bảy Háp, Mỹ Thanh, cồn Tào, cồn Liệt sĩ (sông Tiền – An Giang), cù lao Long Khánh (sông Tiền – Hồng Ngự - Đồng Tháp), cù lao Bình Thủy (sông Hậu – Cần Thơ).
Riêng ở khu vực An Giang, trên các bờ kênh hoặc đê bao chống lũ cỏ Vetiver đƣợc áp dụng ở các khu vực ít ngập nƣớc.2 Công trình kiên cố. Các công trình chống xói lở trên các dòng sông ở đồng bằng sông Cửu Long thƣờng đƣợc xây dựng để bảo vệ xói lở bờ sông dƣới tác động của dòng chảy và sóng, tại các vị trí có độ sâu vừa phải, vận tốc dòng chảy không quá lớn. Công trình kiên cố có 2 loại chủ yếu: một là sử dụng dạng vật liệu là đá, thảm đá, rọ đá. Hai là sử dụng cọc, cừ BTCT (kết hợp gạch xây, cừ tràm).
Các công trình kiên cố đã đƣợc xây dựng để chống xói lở bờ trên địa bàn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đƣợc sử dụng rộng rãi hầu hết tại các khu vực tập trung đông dân cƣ, thành phố, thị xã, thị trấn v.v… nhƣ ở thành phố Cà Mau, thị trấn Năm Căn, trung tâm huyện Đầm Dơi, thị xã Sa Đét, thành phố Hồ Chí Minh.2 Vật liệu công trình bảo vệ bờ kè. Các loại công trình bảo vệ bờ đƣợc xây dựng chủ yếu bằng vật liệu địa phƣơng, vật liệu khai thác tại chỗ, trong một số trƣờng hợp đặc biệt sẽ cần đến những vật liệu nhân tạo. Tuy nhiên, những vật liệu này cơ bản cần đạt đƣợc những yêu cầu sau: 5 Luan van - Có thể khai tác tại chỗ hoặc vận chuyển thuận tiện, chi phí gia công thấp, có trữ lƣợng lớn và có thể huy động sự đóng góp của nhân dân. - Bền, dẻo, dễ biến hình ứng với biến hình của lòng sông hoặc phạm vi cần bảo vệ, chống xói và khó bị mục nát.
- Các loại vật liệu thƣờng sử dụng trong xây dựng công trình bảo vệ bờ là: - Đất: ngày nay đất ít đƣợc sử dụng vào mục đích bảo vệ bờ mà chủ yếu đƣợc sử dụng để xây dựng lớp lõi của đê. Tùy theo điều kiện sử dụng (có thực vật hoặc không có) và điều kiện tiếp xúc (có tiếp xúc với dòng chảy hay không) mà có thể sử dụng các loại đất khác nhau. - Đá: ngoại trừ các loại đá bị phá hoại trong nƣớc và các loại đá có trọng lƣợng riêng quá nhỏ (nhỏ hơn 1,7T/m3). Tất cả các loại đá dăm, cuội, sỏi… đều có thể sử dụng để xây dựng công trình bảo vệ bờ.
Tùy theo bộ phận công trình, vị trí xây dựng và mục đích sử dụng mà lựa chọn các loại đá khác nhau và kích thƣớc khác nhau. - Tre, cây thân gỗ: tùy theo nhu cầu sử dụng có thể dùng các loại cây này chỉ bằng thân hoặc cả tán cây.