Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Tổng quan về mô hình của STATCOM ở chế độ xác lập Trình bày một số thiết bị FACT điển hình, giới thiệu về cấu tạo, nguyên lý hoạt động, chế độ vận hành của STATCOM. Tổng quan về một số mô hình và chế độ hoạt động của STATCOM ở chế độ xác lập. Chương 3: Ứng dụng của thiết bị bù STATCOM trong việc nâng cao ổn định hệ thống điện Phân tích một số đặc điểm của thiết bị STATCOM trong hệ thống điện, chủ yếu nâng cao điện áp để ổn định lưới điện. Chương 4: Mô hình điện áp nút của STATCOM Xây dựng mô hình STATCOM ở chế độ xác lập dựa trên các điện áp nút.
Mô hình mô tả dưới dạng ràng buộc đẳng thức và ràng buộc bất phương trình là một 3 trong những mô hình toàn diện và linh hoạt phù hợp cho phân tích ở chế độ xác lập của hệ thống điện với có sự tham gia của STATCOM. Chương 5: Áp dụng, kết luận và hướng phát triển. Chương này sẽ áp dụng mô hình STATCOM như đã trình bày trong chương 4. Sử dụng phần mềm MATLAB để thực hiện biểu diễn kết quả của mô hình và sử dụng thuật toán Newton –Raphson cho phân tích hệ thống điện ở chế độ xác lập.
Ngoài ra, để kết quả mang tính khách quan kết quả thu được sẽ so với kết quả khi kiểm tra bằng chương trình chạy của Hadi Saadat và PSAT. 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH CỦA STATCOM Ở CHẾ ĐỘ XÁC LẬP 2.1 Tổng quan: FACTS là từ viết tắt cho Flexible AC Transmission Systems. Các khái niệm về FACTS đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới để tăng giới hạn truyền dẫn công suất ở trạng thái ổn định cũng như cải thiện khả năng đáp ứng hệ thống điện động đã được giới thiệu của Tiến Sĩ N. Hingorani từ Viện Nghiên Cứu Điện Lực Mỹ.
Khái niệm này lần đầu tiên được đề cập trong Tạp chí EPRI vào năm 1986 và sau đó trong các bài phát biểu của cuộc họp IEEE Summer PES vào tháng bảy năm 1987 tại San Francisco và tại Hội nghị về Điện năm 1988 Mỹ [1]. Các thiết bị FACTS cung cấp những lợi ích cho việc nâng cao quản lý hệ thống truyền tải thông qua việc sử dụng tốt hơn các lưới truyền tải hiện có; tăng độ tin cậy và khả năng sẵn sàng của hệ thống truyền tải; tăng độ ổn định động và ổn định quá độ của lưới; tăng chất lượng cung cấp cho các ngành công nghiệp có yêu cầu chất lượng điện năng cao; các lợi ích về môi trường khác. Các thiết bị FACTS được sử dụng để điều khiển điện áp, trở kháng và góc pha của các đường dây truyền tải xoay chiều cao áp. Dưới đây là mô tả các loại thiết bị FACT chủ yếu.2 Các biện pháp áp dụng trong công nghệ truyền tải điện của hệ thống điện: Khi tính toán các chế độ vận hành của hệ thống điện hợp nhất có đường dây siêu cao áp, do cấp điện áp cao nên lượng công suất phản kháng mà đường dây sinh ra là rất lớn.
Đặc biệt là khi đường dây không mang tải thì lượng công suất phản kháng phát ra rất lớn gây nên hiện tượng quá áp ở cuối đường dây. Để hạn chế hiện tượng này, ta phải dùng các biện pháp kỹ thuật khác nhau như: 5 Tăng số lượng dây phân nhỏ trong một pha (phân pha) của đường dây để giảm điện kháng và tổng trở sóng, tăng khả năng tải của đường dây. Bù thông số đường dây bằng các thiết bị bù dọc và bù ngang (bù công suất phản kháng) để giảm bớt cảm kháng và dung dẫn của đường dây làm cho chiều dài tính toán rút ngắn lại. Phân đoạn đường dây bằng các kháng điện bù ngang có điều khiển đặt ở các trạm trung gian trên đường dây.
Đối với đường dây siêu cao áp 500kV, khoảng cách giữa các trạm đặt kháng bù ngang thường không quá 600km. Đặt các thiết bị bù ngang hoặc bù dọc ở các trạm nút công suất trung gian và trạm cuối để nâng cao ổn định điện áp tại các trạm này.1 Bù công suất phản kháng: Khác với các đường dây cao áp (điện áp nhỏ hơn 330kV), quá trình truyền tải điện xoay chiều trên đường dây siêu cao áp liên quan đến quá trình truyền sóng điện từ dọc theo đường dây. Điện trường của đường dây ít thay đổi trong quá trình vận hành vì điện áp trên đường dây được khống chế trong giới hạn cho phép (thường là 10%), song từ trường lại thay đổi trong dải khá rộng theo sự thay đổi của dòng điện tải của đường dây. Trị số trung bình cho một chu kỳ năng lượng điện trường tính trên một đơn vị chiều dài của một pha đường dây là: .1) Công suất điện trường của ba pha của đường dây có chiều dài l là: 3.2) Trị số trung bình cho một chu kỳ năng lượng từ trường tính trên một đơn vị chiều dài của một pha đường dây khi dòng điện tải là I: .3) Công suất từ trường của ba pha của đường dây có chiều dài l là: 3.4) 6 Công suất phản kháng do đường dây sinh ra được xác định như là hiệu giữa công suất điện trường và từ trường: 3.
Khi công suất phản kháng của đường dây bằng 0, ta có: .6) Trong đó: là tổng trở sóng của đường dây Khi đó, đường dây tải dòng điện tự nhiên ITN. Đối với đường dây dài hữu hạn, hiện tượng này xảy ra khi điện trở phụ tải tác dụng bằng tổng trở sóng XC của đường dây. Đây là chế độ tải công suất tự nhiên. Trong trường hợp này, đường dây siêu cao áp không tiêu thụ hay phát thêm công suất phản kháng.7 Việc bù thông số của đường dây siêu cao áp làm tăng khả năng tải của đường dây và qua đó nâng cao tính ổn định.
Các biện pháp thường được áp dụng và đem lại hiệu quả cao là bù dọc và bù ngang trên các đường dây siêu cao áp.2 Bù dọc và bù ngang trong đường dây siêu cao áp: Các đường dây siêu cao áp có chiều dài lớn thường được bù thông số thông qua các thiết bị bù dọc và bù ngang. Mục đích chủ yếu của việc đặt các 7 thiết bị bù là nâng cao khả năng tải của đường dây và san bằng điện áp phân bố dọc đường dây. Hơn nữa, bù thông số còn nâng cao tính ổn định tĩnh, ổn định động, giảm sự dao dộng công suất… làm cho việc vận hành hệ thống điện một cách linh hoạt và hiệu quả hơn. Đây là biện pháp rất cần thiết cho các đường dây siêu cao áp có chiều dài lớn, đặc biệt là những đường dây có chiều dài gần 1/4 bước sóng như đường dây 500kV Bắc - Nam ở Việt Nam.1 Bù dọc: Trị số cảm kháng lớn của đường dây siêu cao áp làm ảnh hưởng xấu đến hàng loạt chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng của đường dây như: góc lệch pha giữa đầu và cuối đường dây lớn, tổn thất công suất và điện năng trên đường dây cao, tính ổn định điện áp tại các trạm giữa và cuối đường dây kém… Bù dọc là giải pháp làm tăng điện dẫn liên kết (giảm điện cảm kháng X của đường dây) bằng dung kháng XC của tụ điện.
Giải pháp này được thực hiện bằng cách mắc nối tiếp tụ điện vào đường dây. Qua đó giới hạn truyền tải của đường dây theo điều kiện ổn định tĩnh được nâng lên. Hơn nữa, giới hạn ổn định động cũng tăng lên một cách gián tiếp do nâng cao thêm đường cong công suất điện từ. Khi mắc thêm tụ nối tiếp vào đường dây thì điện kháng tổng của mạch tải điện sẽ giảm xuống còn (XL - XC).
Giả sử góc lệch giữa dòng điện phụ tải I và điện áp cuối đường dây U2 không đổi thì độ lệch điện áp U1 ở đầu đường dây và góc lệch pha giữa vectơ điện áp giữa hai đầu đường dây giảm xuống khá nhiều.2 Bù ngang: Bù ngang được thực hiện bằng cách lắp kháng điện có công suất cố định hay các kháng điện có thể điều khiển tại các thanh cái của các trạm biến áp. Kháng bù ngang này có thể đặt ở phía cao áp hay phía hạ áp của máy biến áp. Khi đặt ở phía cao áp thì có thể nối trực tiếp 8 song song với đường dây hoặc nối qua máy cắt được điều khiển bằng khe hở phóng điện. Dòng điện Il của kháng bù ngang sẽ khử dòng điện IC của điện dung đường dây phát ra do chúng ngược chiều nhau.
Nhờ đó mà công suất phản kháng do đường dây phát ra sẽ bị tiêu hao một lượng đáng kể và qua đó có thể hạn chế được hiện tượng quá áp ở cuối đường dây. Việc lựa chọn dung lượng và vị trí đặt của kháng bù ngang có ý nghĩa rất quan trọng đối với một số chế độ vận hành của đường dây siêu cao áp trong hệ thống điện như chế độ vận hành non tải, không tải. của đường dây. Trong chế độ không tải, phía nguồn khép mạch, phía tải hở mạch thì các nguồn phát vẫn phải phát công suất tác dụng rất lớn để bù vào tổn thất điện trở của đường dây và máy biến áp.
Để khắc phục sự quá áp và quá tải máy phát ta phải đặt kháng bù ngang tại một số điểm trên đường dây. Trong chế độ non tải (PTải < PTN), thì công suất phản kháng trên đường dây thừa và đi về hai phía của đường dây. Để đảm bảo được trị số cos cho phép của máy phát, ta phải đặt kháng bù ngang ở đầu đường dây để tiêu thụ công suất phản kháng. Trong chế độ tải cực tiểu, công suất phản kháng do đường dây sinh ra rất lớn (đối với đường dây siêu cao áp 500kV với Q0 ≈ 1MVAR/km) nên ta phải đặt các kháng bù ngang phân bố dọc theo đường dây để tiêu thụ lượng công suất phản kháng này.
Thông thường, khoảng cách giữa các kháng bù ngang từ 200 - 500km. Công suất phản kháng của đường dây phát ra trong chế độ không tải được tính gần đúng như sau: .8) 9 Đối với các đường dây có cấp điện áp 500kV, tổng công suất của các kháng bù ngang trên đường dây thường bằng 60 - 70% công suất phản kháng do điện dung đường dây phát ra.3 Nhận xét: Đường dây siêu cao áp có nhiều đặc điểm riêng về kỹ thuật cần quan tâm khi thiết kế phát triển lưới điện, đặc biệt là về giới hạn ổn định và ổn định điện áp. Mô hình đường dây siêu cao áp khi tính toán phải theo sơ đồ thông số rải.